Con hạc gầy của Lập

Con hạc gầy của Lập

 

Khi tiếng dương cầm vừa ngân

Chiếc khóa Sol bỗng hóa thành đũa thần

Mở giưã hồn anh một khoảng vườn bí mật,

Có dấu tròn ngây ngất hương hoa,

Dấu đen mượt mà hơn cỏ lá

Và từng đàn bướm lạ

Hóa thân từ những móc đơn

Bay vờn trong gió.

Có em,

Nhỏ nhoi như một bông hoa hiền hòa bên suối,

Cúi nhìn những phím trắng trôi đi,

Những phím đen thành đá cuội,

Mà bọt sóng cười nghìn nốt nhạc pha lê

Vỗ về cơn nắng,

Ðể anh mãi chơi vơi cả một đời dấu lặng

Vẫn mang nặng trong tim

Bao tiếng vọng tuyệt vời...

 

Bạch Hạc ấn từng ngón tay thuôn lên những phím đàn trắng muốt. Dòng nhạc vang lên trong căn phòng nhỏ, cuốn tròn lại thành một con trốt rồi hút tuột Bạch Hạc vào đó. Chỉ còn tiếng đàn và những kỷ niệm cũ. Nostalgie. Bạch Hạc nhắm mắt lại để thưởng thức tiếng đàn của chính mình. Ðôi tay vẫn lướt đều, chính là kỷ niệm đang dẫn lối, đưa những ngón tay xinh mở dần từng chốt cửa màu đen để đẩy cả một dòng sông trắng của ký ức ùa về, ngộp thở. Cứ thế, cứ thế, Bạch Hạc quay cuồng, khóc cười trong tưởng tượng, chất ma túy âm nhạc dần thấm sâu đến tận từng đầu dây thần kinh bé nhỏ nhất, đẩy Bạch Hạc vào một cơn đồng thiếp ngập dấu ngậm ngùi. Nostalgie. Còn chút gì để nhớ? Ðã bao điều vội quên? Những ngón tay vẫn quấn quýt lấy từng phím đàn, như kể lể, như thở than, những ngón tay buốt nhói dạo lên lũ cung điệu quen thuộc như tuôn ra ào ạt từ vô thức, dòng sông trắng đã cuốn phăng những chốt cửa màu đen cùng bọn rác rưởi phiền muộn ra tít tận cõi xa, dâng từng ngọn sóng thần ngất ngưởng trời xanh rồi thoắt vội tan lẫn vào giưã hư vô huyền ảo... Và khi nốt nhạc cuối cùng rơi xuống như một giọt sương trên mặt hồ buổi sớm, để lại những vòng sóng mỏng dần trước khi tắt hẳn, Bạch Hạc ngồi lặng, tưởng chừng như khi quay lại sẽ bắt gặp đôi kính cận của Lập và câu nói:

- Hạc đánh bài Nostalgie hay quá, làm Lập mê... Clayderman luôn !   

Lập bao giờ cũng vậy, cứ nửa đùa nửa thật, làm Bạch Hạc nhiều lúc vừa bực bội vừa buồn cười. Bây giờ thì Lập đã ở thật xa, chỉ còn một mình Bạch Hạc ngồi đây, và sau lưng là chiếc ghế trống, câm lặng...

 

Bóng tối đã ngập đầy căn phòng từ lúc nào không biết. Có lẽ đã bảy giờ, hay sáu giờ, trời tháng mười mau tối lắm! Bạch Hạc thích có những lúc như thế này, ngồi một mình với bóng tối vây quanh, để được tự do nhớ, tự do thả hồn bay đi mơ mộng, xa rời thực tại trong chốc lát. Chiếc khánh đồng xinh xinh treo trước cửa sổ cứ reo lanh canh trong gió. Quên Lập làm sao được, khi chiếc khánh ấy - một kỷ vật của Lập - cứ gợi mãi chuỗi cười ròn tan tưởng chừng như bất tận, và ánh mắt, và khóe môi... Nhưng cũng đã có lần, Bạch Hạc thấy Lập khóc, hay đúng hơn, nghe Lập khóc. Hai đứa đã sống trọn vẹn cho nhau cả một buổi chiều, trước ngày Lập rời Việt Nam đi Pháp. Lập và Hạc nằm bên nhau, quyện chặt vào nhau, hòa lẫn trong nhau và hai đứa cùng khóc, hai đứa khóc tội nghiệp như hai đứa bé con bị cấm chơi trò mà chúng yêu thích nhất. Ánh sáng của một buổi chiều dần tối tháng mười không đủ để Hạc nhìn rõ mặt Lập khi ấy, chỉ có những đường viền trên sống mũi, trên cằm, trên cổ, trên thân thể Lập là còn thoi thóp, và Hạc đã hôn nhẹ lên từng vùng ánh sáng nhỏ nhoi đó, như để nuốt vào ký ức mình những hình ảnh cuối cùng của Lập. Một lần, là trăm năm, phải không Lập ? Một lần, lần đầu và có lẽ cũng là lần cuối cùng, Bạch Hạc đã cho phép mình bước qua khỏi những giới hạn do chính bản thân đặt ra để đến với Lập, toàn vẹn cả con tim lẫn thể xác. Và Lập cũng đã tặng lại Bạch Hạc một tình yêu như thế, không so đo, tính toán thiệt hơn, một tình yêu mà hai đứa đều muốn cho nhiều hơn là nhận, một tình yêu viết hoa to tướng, tô đen tô đỏ đậm đặc nhưng lại được kết tinh từ những điều bình thường, vụn vặt nhất... Ngày Lập đi, Bạch Hạc ngồi khóc một mình. Lập không cho Bạch Hạc đi tiễn, vì đã chứng kiến cảnh một đôi tình nhân, người đứng ngoài, kẻ đứng trong phòng cách ly của phi trường, và họ chỉ còn biết áp chặt những bàn tay, những vành môi vào tấm kính lạnh lùng để truyền cho nhau chút hơi ấm trước giờ xa lìa, có thể chỉ một vài năm, có khi là mãi mãi. Hình ảnh ấy đã làm Lập mất ngủ nhiều đêm rồi đâm ra sợ những cảnh chia ly. Và vì thế, Lập không muốn thấy cảnh ấy tái diễn, với người trong cuộc, lần này lại chính là Hạc và Lập. Bạch Hạc đã giận Lập khi ấy, nhưng sau đó, lại càng hiểu Lập hơn. Vậy mà nhiều lúc, Bạch Hạc thầm trách Lập sao lại lẳng lặng nuốt một mình trái đắng. Khi đã yêu nhau, điều gì cũng cần chia sớt, nếu Lập đã tặng Hạc những nụ cười, cũng xin Lập để dành cho Hạc những dòng nước mắt nưã, phải không Lập?

 

Bạch Hạc trải mảnh dạ đỏ lên dãy phím đàn rồi đóng nắp dương cầm lại, khe khẽ đứng dậy đẩy cửa bước xuống bếp, như sợ làm vỡ mất sự im lặng của bóng tối. Bảy giờ kém mười lăm, mẹ vẫn chưa về. Bạch Hạc cúi xuống bật diêm nhóm bếp dầu hôi để hâm lại xoong cá thu kho rồi đổ rá gạo đã vo từ chiều vào nồi National, một trong những vật dụng "hiện đại" cuối cùng còn sót lại của mẹ con Bạch Hạc, và cắm điện. Những ngày cúp điện, Bạch Hạc phải nhóm bếp than. Khói bay mù cả nhà và làm cay mắt kinh khủng. Bạch Hạc thù cái bếp than đó nhất đời. Cái đồ dùng cổ lỗ sĩ , bao đời được tâng tiu chiều chuộng, đến thế hệ Bạch Hạc thì coi như... huyền thoại sụp đổ! Bạch Hạc buồn cười khi nghĩ thầm về bộ ba thần Táo bếp : thần gì mà khờ thế, chọn ngay cái chỗ ngạt thở, ám khói đen thui, hôi hám để mà ở, đã thế cuối năm lại còn vòi cá chép để lên mách lẻo Ngọc Hoàng chuyện riêng tư nhà người ta nưã chứ ! Bạch Hạc chả thích mấy cái ông bà Táo "báo cáo láo ăn tiền" ấy chút nào cả. Ðem nói với mẹ thì mẹ cứ mắng yêu:

- Cái con bé này, hư quá, đã không biết nịnh nọt, đút lót gì "người ta", lại còn chê bai, trách móc, thảo nào nhà mình không khá nổi !

Hạc lại nghĩ thầm, và lần này lén, không nói với mẹ nưã : thần gì mà... nhỏ nhen dữ vậy !

 

Bạch Hạc trở lên phòng khách, bật đèn. Ðồng hồ tay chỉ hơn bảy giờ. Chủ nhật mà mẹ cũng có cours dạy nhạc trễ như vậy nưã ! Bạch Hạc thương mẹ thật nhiều. Vừa là mẹ, vừa là cha, lại vừa là thầy dạy đàn của Hạc. "Công cha, nghĩa mẹ, ơn thầy", làm sao mà Bạch Hạc không thương, không kính mẹ cho được ! Ðã thế, mẹ lại còn là một người bạn thật gần gũi để Bạch Hạc có thể tâm sự, hỏi han. Mẹ đúng là vị thần hộ mạng của Hạc. Thế nhưng, không bao giờ Bạch Hạc thấy mẹ thật sự vui kể từ sau ngày bố chết. Ngay cả khi cười, mắt mẹ cũng long lanh như muốn khóc. Bố chết trận, lâu lắm rồi, khi Bạch Hạc còn đang tập làm tính cộng. Những chi tiết cuối cùng mà Bạch Hạc còn giữ được về bố là hình ảnh một người đàn ông cao lớn, mặc đồ xanh, đi bốt, là câu nựng yêu :

- Bố  "thơm" mẹ một cái thì phải "thơm" con heo con của bố mười cái, mẹ có ghen không ?

Và không đợi mẹ trả lời, không đợi Hạc đồng ý, bố đè Hạc ra hôn chùn chụt khắp người, vừa hôn vừa cù làm Bạch Hạc dãy đành đạch và cười ré lên từng tràng. Những ngày ấy, Hạc còn nhớ mẹ mua hoa về cắm đầy nhà, mẹ đàn những bài nhạc thật vui, và mẹ còn hát nưã. Rồi bố đi, hai mẹ con lại thui thủi trở về nếp sống thường nhật, lặng lẽ... Cho đến ngày mẹ nhận được tin bố chết, mất xác. Bạch Hạc thở dài. Kỷ niệm cũ sao buồn quá! Bạch Hạc vẫn mong sẽ có một người đàn ông khác đến trong cuộc đời của mẹ, để thay bố an ủi và chiều chuộng, thương yêu mẹ. Nhưng hình như mẹ đã tự làm đông giá con tim của mình từ ngày ấy, để chỉ giam kín có mỗi hình ảnh bố mà thôi. Mẹ sống như những người đàn bà xưa, ở vậy, thờ chồng, nuôi con, vì tự nguyện chứ không phải vì lễ nghĩa nho giáo trói buộc. Mẹ sống thật bên cạnh mình mà đôi khi Hạc có cảm tưởng như mẹ hóa thân vào cuộc đời của một nhân vật nào đó trong tủ tiểu thuyết lãng mạn của nhóm Tự Lực Văn Ðoàn những thập niên đầu thế kỷ...

 

Tắt bếp dầu hôi. Tắt đèn. Bóng tối ụp xuống như một tấm lưới đen, dày, ẩm ướt. Kín bưng mắt. Mùi cá kho càng quyến rũ hơn nưã cái dạ dày lép kẹp. Không được, lại phải bật đèn lên. Bảy giờ bốn mươi lăm. Ðể quên bớt cơn đói, Bạch Hạc lôi xấp thư cũ của Lập ra, nhẩn nha đọc lại. Hai năm rồi, đầu lá thư nào gửi về, cũng là dòng chữ "con hạc gầy của Lập". Bạch Hạc thấy nó trở thành quen thuộc đến nỗi, nếu Lập có đổi nó đi, Hạc cũng không nghĩ là Lập sẽ thay thế được bằng một câu nào khác dễ thương và âu yếm hơn. Con hạc gầy của Lập không biết đến khi nào mới đủ sức vươn đôi cánh yếu ớt bay vượt ngàn dặm để đến bên Lập đây ? Câu hỏi ấy cứ ám ảnh Bạch Hạc mãi, một câu hỏi hóc búa mà suốt hai năm nay Bạch Hạc chưa tìm được một giải pháp nào khả dĩ có thể giải đáp được trọn vẹn. Chẳng lẽ cứ mãi xa nhau hay sao ? Hạc chỉ sợ thêm chừng một vài năm nưã, Lập, hay biết đâu chính Hạc, sẽ đổi thay. Lập vẫn thường nửa đùa nửa thật với Bạch Hạc mỗi khi Hạc hỏi Lập có yêu Hạc suốt đời không:

- Lập thích thuyết tương đối của Einstein. Hạc thấy không, cả đến mặt trời cũng còn chuyển động, cả đến thời gian cũng còn co giãn nưã kia mà!

Còn Bạch Hạc thì vững tin vào sự vĩnh cửu của tình yêu. Bạch Hạc chưa tưởng tượng ra nổi một ngày nào đó, mình lại có thể yêu một người con trai khác, không phải là Lập. Chỉ có Lập, Lập, Lập mà thôi. Chẳng biết Bạch Hạc có... gì nhỉ, cực đoan và lý tưởng hóa quá không ?

 

Nhớ Lập quá! Mỗi chiều chủ nhật, Hạc lại dành trọn để tự tâm sự, để nghĩ và mơ về Lập. Cả tuần đi làm, bao nhiêu công văn, văn thư, sổ sách phải đánh máy, ghi chép, tính toán, những con chữ, con số ấy nhiều khi theo Hạc vào giấc ngủ và biến thành lũ quỷ đen nhảy múa trong cơn ác mộng. Còn Lập, không hiểu sao, thỉnh thoảng lắm mới trở về với Hạc, và những giấc mơ như thế thường làm Hạc bàng hoàng ngơ ngẩn khi thức giấc. Khoảng cách giưã giấc mơ và thực tại thật ngắn ngủi về thời gian nhưng lại chứa một không gian bao la đến vô cùng tận. Và khi Bạch Hạc đã lỡ bước chân vào thực tại thì không có cách gì quay lại để níu kéo giấc mơ trở về với mình được nưã. Những lần như thế, Bạch Hạc đã ngồi khóc vùi từ hơn nửa đêm đến sáng. Hình như bóng đêm làm con người ta yếu đuối hơn thì phải. Khi ấy chỉ còn lại cái tôi và cái ta đối diện nhau, không có gì cần phải che đậy, dấu diếm, không có ai nhòm nhỏ để phải mang mặt nạ vào đóng kịch cho vừa lòng mọi người. Khi ấy, Bạch Hạc mới hiểu là mình cần có Lập ở bên cạnh biết chừng nào, để được chọc, được giận, được vuốt ve, được cho và nhận, được khát khao hiến dâng với tất cả xác hồn...

 

Nhưng dù sao, đó cũng chỉ là ước muốn, và nếu tất cả những ước muốn trên đời này đều trở thành sự thật thì có lẽ loài người đã chẳng phải nhào nặn ra một vườn Ðịa Ðàng với trái cấm cám dỗ ! Bạch Hạc nhớ lại ngày xưa, khi còn đi học, bạn bè đứa nào mà chẳng vẽ vời những ước muốn thật đẹp cho tương lai. Bây giờ ngồi nhìn lại, Bạch Hạc thầm xót xa trước sự phũ phàng của thực tại. Cay nghiệt như những lằn roi quất vun vút xuống số mệnh của từng người tuổi trẻ, không chừa một ai, không nương tay với một ai. Thực tại hung hiểm quá, Bạch Hạc cứ mãi muốn như con đà điểu rúc đầu vào cát để chối bỏ thực tại, để chỉ muốn sống với những quá khứ đẹp, sàng lọc kỹ càng và những mơ mộng viển vông, bay bổng. Nhưng cánh mộng cũng đôi lúc vướng phải tơ trời. Nhiều lần Bạch Hạc thầm hỏi : hiện giờ Lập đang có người con gái nào ở bên cạnh không, để nhớ, để yêu, để chung chăn chung gối ? Bạch Hạc hiểu, mình không thể nào níu giữ được Lập với một khoảng cách quá lớn cả về không gian lẫn thời gian. Hai năm sống ở Paris, nơi mà mỗi người đàn ông đều có thể tìm được cho mình một cô nhân tình bé nhỏ, Hạc khó tin một thanh niên bình thường, khỏe mạnh như Lập lại không thể... Có một chút gì nhoi nhói nơi tim. Hai năm. Cuộc sống của Bạch Hạc vẫn phẳng lặng như mặt ao tù, quẩn quanh với căn nhà và sở làm, với những thói quen cũ kỹ, nhàm chán. Còn trên đất lạ, đời người có lẽ như con sông mạch suối, cứ tuôn chảy mãi không ngừng, tránh sao được những điều thay đổi? Diệu có lần viết thư về kể chuyện thay đổi tính tình của người Việt sống ở Mỹ, thay đổi đến kỳ cục, đến tàn nhẫn. Còn người Việt Nam sống ở Pháp thì sao ? Còn Lập ở Paris thì sao ? Hạc giận mình đã nghi ngờ Lập, nhưng cứ hễ mỗi lần nhớ đến Lập là y như rằng, những câu hỏi quái ác ấy lại len lén kéo nhau trở về dằn vặt Bạch Hạc. Tâm hồn đôi khi có những mâu thuẫn đốp chát nhau gay gắt, con người đôi khi phải tự lừa dối để bám víu vào những hy vọng mong manh, tơi tả. Bạch Hạc chỉ còn biết đoán mò qua những bức thư Lập gửi về, mà Lập thì vẫn chứng nào tật nấy, cứ nửa đùa nửa thật. Vẫn biết những bức thư không bao giờ diễn tả được hết mọi ý tưởng, và có những điều không tiện để viết ra, nhưng... biết làm sao bây giờ, chỉ còn đó là chiếc cầu duy nhất nối liền tư tưởng của Lập và Hạc mà thôi. Chiếc cầu Ô Thước ngày xưa mỗi năm còn đưa vợ chồng Ngâu đến gặp nhau giưã dải Ngân Hà bạc sáng được một lần, còn Hạc và Lập, đã xa nhau vừa đúng hai năm, hai mươi bốn tháng, bảy trăm ba mươi ngày, mười bảy ngàn năm trăm ba mươi hai giờ, bao nhiêu là mất mát, bao nhiêu là chờ đợi, nhớ mong... Bạch Hạc xoắn những ngón tay vào nhau. Hình như mình đang khóc. Giọt nước mắt âm ấm, mằn mặn kia liệu có làm vợi nhẹ đi niềm thương nhớ ? Tình yêu vẫn còn đầy ắp, và có lẽ cũng vì thế mà nỗi buồn cứ mãi choán chỗ, đè nặng, trùm kín lên hạnh phúc của Bạch Hạc, vốn dĩ đã mong manh...

 

Trên trang giấy mỏng mở ngỏ từ lâu, Bạch Hạc đặt bút, nắn nót dòng chữ : Lập yêu !         

 

Cổ Ngư

MONTPELLIER 06.1990