Khoa học thần kinh và thiền định
Matthieu Ricard
Năm 2000, một cuộc gặp gỡ đặc biệt được tổ chức tại Dharamsala, xứ Ấn Độ. Một số chuyên gia hàng đầu về cảm xúc, về tâm lư học, về nghiên cứu khoa học thần kinh và về triết học, đă trong suốt một tuần lễ thảo luận với đức Đạt Lai Lạt Ma, trong bầu không khí thân mật tại nhà riêng của ngài bên triền núi Hi Mă Lạp Sơn.
Đây cũng là lần đầu tiên tôi được dịp tham gia vào những buổi gặp gỡ rất hứng thú tổ chức bởi Viện Tâm thức và Đời sống, thành lập năm 1987 bởi Francisco Varela, một nhà nghiên cứu nổi tiếng về khoa học thần kinh, và Adam Engle, một nhà kinh doanh Mỹ. Cuộc trao đổi hướng về những cảm xúc phá hủy và cách điều tiết chúng.[i]
Một buổi sáng trong cuộc gặp gỡ đó, đức Đạt Lai Lạt Ma lên tiếng : « Tất cả những thảo luận này rất lư thú, nhưng chúng ta có thể thực sự mang lại ǵ cho xă hội ? » Vào giờ ăn trưa, mọi người họp nhau lại bàn luận một cách sôi nổi, và cuộc thảo luận dẫn tới đề nghị tung ra một chương tŕnh nghiên cứu, trên những tác động ngắn và dài hạn của sự tập luyện tâm thức, thường được gọi là « thiền định ». Buổi chiều, trước sự hiện diện của đức Đạt Lai Lạt Ma, dự án đó được chấp thuận một cách nồng nhiệt. Đó là điểm khởi đầu của một chương tŕnh nghiên cứu hứng thú về « thần kinh học mặc niệm ».
Đă có nhiều nghiên cứu được thực hiện, trong đó tôi được may mắn tham dự ngay từ ban đầu, tại các pḥng thí nghiệm của Francisco Varela (đă quá cố) tại Pháp, của Richard Davidson và Antoine Lutz tại Madison (Wisconsin), của Paul Ekman và Robert Levenson tại San Francisco và Berkeley, của Jonathan Cohen tại Princeton và Tania Singer tại Maastricht và Zurich.
Sau một thời gian thăm ḍ, thử nghiệm được làm trên khoảng 20 người giầu kinh nghiệm hành thiền, gồm cả tăng sĩ và cư sĩ, nam và nữ, Á châu và Tây phương, tất cả đều đă hành thiền trong 10.000 tới 50.000 giờ, nhằm phát triển ḷng từ bi, sự chú ư và tỉnh thức. Những công tŕnh đó đă được đúc kết trong nhiều bài báo cáo trên những báo chí khoa học nổi tiếng,[ii] gây nên sự kính nể đối với việc nghiên cứu về thiền định và sự điều tiết thăng bằng cảm xúc, một lănh vực đến tận bây giờ vẫn chưa được coi là nghiêm túc. Theo lời Richard Davidson, « những công tŕnh này dường như chứng minh rằng năo có thể được tập luyện và thay đổi về vật chất một cách mà ít người có thể tưởng tượng nổi. » Ngoài ra, Stephen Kosslyn, giám đốc khoa tâm lư học của trường Đại học Harvard và chuyên môn toàn cầu về h́nh ảnh tâm thức, cũng tuyên bố trong buổi gặp gỡ của Viện Tâm thức và Đời sống tổ chức tại viện M.I.T. ở Boston : « Chúng ta phải tỏ ra khiêm tốn trước khối lượng dữ liệu thực nghiệm mang lại bởi các nhà hành thiền theo đạo Phật. »
Một sự lợi ích toàn bộ
Những người giầu kinh nghiệm hành thiền có khả năng làm nẩy sinh những trạng thái tâm thức chính xác, có mục tiêu, mạnh mẽ và lâu dài. Các thí nghiệm đă cho thấy các vùng năo liên quan tới cảm xúc như từ bi chẳng hạn, hoạt động vô cùng mạnh mẽ trên những người có kinh nghiệm thiền định lâu dài. Những khám phá đó tỏ rơ rằng các tính tốt của con người có thể được trau dồi tích cực bằng sự tập luyện tâm thức.
Một số thí nghiệm khoa học khác cũng cho thấy rằng không cần phải hành thiền cật lực mới hưởng được những kết quả tốt của thiền định, và chỉ thực hành 20 phút mỗi ngày cũng làm giảm đi rơ rệt sự lo âu và stress, sự nóng giận (mà người ta biết rơ ảnh hưởng xấu trên sức khoẻ) và rủi ro tái phát trong trường hợp trầm cảm nặng. Tám tuần thiền định theo phương pháp tỉnh thức (loại MBSR[iii]), trong 30 phút mỗi ngày, dẫn tới sự tăng cường rơ rệt hệ thống miễn dịch, và khả năng chú ư, đồng thời làm giảm huyết áp trên những người bị huyết áp cao, và sự lành bệnh vẩy nến (psoriasis) nhanh hơn[iv]. Điều cần thiết trong sự hành thiền, không phải là thiền trong một thời gian lâu hơn, mà là thiền một cách đều đặn hơn. Nếu năo được kích thích một cách đều đặn, th́ chỉ cần khoảng 30 ngày là đă thấy xuất hiện các thay đổi chức năng nơ ron. Nghiên cứu những trạng thái tâm thức trên sức khoẻ, trước kia bị xem là ḱ quặc, đă trở thành mỗi ngày một hợp thời đối với nghiên cứu khoa học[v].
Mục đích không phải là gây chấn động, nhưng phải làm sao cho mọi người ư thức được thiền định và sự « tập luyện tâm thức » có thể thay đổi một cuộc sống đến mức nào. Chúng ta thường có khuynh hướng đánh giá quá thấp khả năng thay đổi tâm thức, và những tác động của cuộc « cách mạng nội tâm », nhẹ nhàng và sâu đậm đó, trên chất lượng của đời sống chúng ta.
Tuổi nào cũng có thể thay đổi được
Đức Đạt Lai Lạt Ma thường mô tả đạo Phật trước hết như một môn khoa học tâm thức. Điều đó không có ǵ đáng ngạc nhiên, bởi v́ các kinh điển Phật giáo đặc biệt nhấn mạnh vào điểm tất cả các thực hành tâm linh, tâm thức, về thể chất cũng như truyền khẩu, đều có mục đích trực tiếp hay gián tiếp chuyển đổi tâm thức. Tuy nhiên, như Yongey Mingyour Rinpotché đă viết, « một trong những khó khăn chính mà người ta gặp phải khi quan sát tâm thức ḿnh là sự tin chắc sâu đậm, thường thường một cách không ư thức, rằng ḿnh là như vậy, và không thể nào đổi thay được. »[vi] Thật ra, trạng thái mà chúng ta xem là « b́nh thường » chỉ là một khởi điểm, chứ không phải là mục đích mà chúng ta phải tự gắn cho ḿnh. Sự hiện hữu của chúng ta có giá trị hơn chứ ! Dần dần người ta có thể đi tới một lối sống « tối ưu ».
Khi người ta đặt lên câu hỏi, về bà Ingrid Betancourt, một nhà chính trị Cô Lông Bi - Pháp bị bắt cóc trong khi bà đang vận động bầu cử tại Cô Lông Bi, "Có thể nào sáu năm lao tù trong những điều kiện khó khăn cực độ như vậy, thay đổi được nhân cách hay không ?", th́ một nhà phân tâm học nổi tiếng đă trả lời : "Không. Sau 25 tuổi, nhân cách của anh đă cố định rồi." Đối với bản thân tôi, th́ sự thay đổi thực sự đă bắt đầu từ 25 tuổi ! Đó cũng là trường hợp của đa số những người hành thiền đă đóng góp vào các thí nghiệm, bắt đầu từ khi họ đă dấn thân một cách nghiêm túc vào con đường tập luyện tâm thức, con đường thiền định.
Trong chừng mực nào người ta có thể luyện tập cho tâm thức ḿnh hoạt động một cách xây dựng, thay thế sự ám ảnh bởi sự an vui, sự xao động bởi sự yên tĩnh, sự sân hận bởi t́nh thương ? Cách đây hai chục năm, gần như tất cả giới khoa học thần kinh đều chấp nhận một giáo điều, tức là năo có toàn bộ nơ ron từ khi mới sinh ra, và số lượng chúng không hề thay đổi bởi kinh nghiệm sống. Hiện nay, người ta biết rằng ngược lại năo đến tận khi chết vẫn c̣n sản xuất nơ ron, và thay vào đó người ta nói tới « sự mềm dẻo thần kinh », nghĩa là năo luôn luôn tiến hóa tùy theo kinh nghiệm sống, và có thể thay đổi sâu đậm sau một sự tập luyện đặc thù, thí dụ như xử dụng một nhạc cụ hay chơi một môn thể thao. Sự chú ư, tinh thần lợi tha và các đức tính căn bản khác cũng có thể được trau dồi và phần lớn phụ thuộc vào một sự « thành thạo » có thể thiết lập được.
Một trong những bi kịch của thời đại là đánh giá quá thấp khả năng chuyển hóa của tâm thức chúng ta. Những cá tính của chúng ta sẽ c̣n măi, chừng nào chúng ta c̣n không làm ǵ để cải thiện chúng và để các khuynh hướng và thói quen tồn tại, hay hơn nữa vững mạnh thêm, từng tư tưởng một, từng ngày một, từng năm một.
Một số nghiên cứu cho rằng từ 40 tới 60% những nét tính t́nh được qui định bởi gien. Điều này bị phủ nhận bởi các nhà khoa học thần kinh làm việc trong lănh vực mềm dẻo thần kinh và các chuyên gia về épigénétique (nghiên cứu cách nào sự biểu hiện gien được kích hoạt hoặc ức chế), một ngành nghiên cứu đang phát triển mạnh. Gien là một loại kế hoạch có thể được thực hiện hay không thực hiện, nó không có ǵ là tuyệt đối. Ngay cả ở người lớn, sự biểu hiện của gien có thể bị ảnh hưởng bởi môi trường chung quanh.
Hăy tự mở rộngcho tiềm năng đích thực của ḿnh
Chúng ta không thấy điều ǵ bất thường khi phải bỏ bao nhiêu năm trời để tập đi, tập đọc, tập viết, và để tập sự nghề nghiệp. Chúng ta mất bao nhiêu thời giờ để tập luyện cho cơ thể khoẻ mạnh, như bằng cách cắm cúi đạp xe đạp trong một chiếc pḥng, không đưa đến đâu cả. Để khởi đầu bất cứ một công việc nào, chúng ta cũng phải cảm thấy một sự lư thú hay hăng say tối thiểu, và sự lư thú đó nẩy ra từ ư thức chúng ta sẽ nhận được một lợi ích nào đó.
V́ lư do bí hiểm nào mà tâm thức của chúng ta vượt ra ngoài cái lô gích đó, và có thể chuyển đổi được, không cần một chút cố gắng nào, chỉ v́ chúng ta mong ước điều đó ? Thật cũng chẳng khác ǵ mong ước chơi được một concerto của Mozart, trong khi chỉ lâu lâu mới đập nhẹ ngón tay lên những phím dương cầm.
Trong mỗi chúng ta đều có pha trộn ánh sáng và bóng tối, tính tốt và tính xấu. Tâm thức chúng ta có thể vừa là người bạn tốt nhất, vừa là kẻ thù ác nhất của chính ḿnh. Chuyện xẩy ra như vậy không phải là tốt nhất, nhưng cũng không phải là không tránh được. Mỗi người chúng ta đều có tiềm năng cần thiết để thoát khỏi những trạng thái tâm thức kéo dài sự khổ đau của ḿnh và người khác, để t́m thấy sự an lạc bên trong và để đóng góp vào sự ích lợi của tha nhân. Dĩ nhiên, không phải chỉ cần mong ước mà sẽ được. Phải cần tự tập luyện tâm thức.[vii]
Chúng ta bỏ ra nhiều công sức để cải thiện các điều kiện bên ngoài của cuộc sống, nhưng cuối cùng chính vẫn là tâm thức chúng ta thực nghiệm cuộc sống và diễn tả dưới h́nh thức an lạc hoặc khổ đau. Nếu thay đổi cách nh́n sự vật, chúng ta sẽ thay đổi chất lượng của đời sống. Và sự thay đổi này là kết quả của sự tập luyện tâm thức mà người ta gọi là thiền định.
Theo đạo Phật, « thiền định » có nghĩa là « tập cho quen » hay « nuôi dưỡng ». Thiền định là tập cho quen với một lối sống mới, là điều tiết tư tưởng ḿnh và cảm nhận thế giới.
Người ta thường nghe nói là đạo Phật nhằm hủy diệt cảm xúc. Tất cả tùy thuộc người ta muốn nói đến « cảm xúc » nào. Nếu là những cảm xúc gây xáo trộn tâm thức, như sân hận, lo lắng và ganh tị, th́ tại sao không hủy bỏ chúng ? Nếu ngược lại, là những t́nh cảm từ bi hướng về những kẻ khổ đau, th́ tại sao không phát triển chúng ? Đó cũng chính là mục đích của thiền định.
Để đạt tới đó, sự quan sát nội tâm theo đạo Phật dùng hai phương pháp : một phương pháp phân tích, và một phương pháp mặc niệm. Phân tích tức là nhận xét tính chất của sự thật, chủ yếu là tương quan tương duyên và vô thường, và đánh giá một cách thành thật nguồn gốc và hậu quả của những khổ đau của ḿnh và do ḿnh gây nên cho người khác. Phương pháp mặc niệm tức là hướng sự chú ư vào bên trong, và nhận xét, đằng sau chiếc màn tư tưởng và khái niệm, tính chất của « ư thức thuần túy » là nền tảng của mọi tư tưởng và sự h́nh thành của chúng. Khả năng căn bản để « biết » đó có ở ngoài các kiến trúc tâm thức và các đối tượng tư tưởng.
Những áp dụng thực tiễn của những nghiên cứu đó
Được thế tục hóa và phê chuẩn bởi khoa học, những kỹ thuật thiền định có thể được đưa vào chương tŕnh giáo dục trẻ em chẳng hạn – một loại thể dục tương đương về tâm thức so với cơ thể –, cũng như được đề nghị như một phương pháp trông nom những vấn đề cảm xúc của người lớn.
Từ ba năm nay, cũng đă có những buổi làm việc tổ chức bởi Viện Tâm thức và Đời sống để thành lập một chương tŕnh can thiệp vào giáo dục nhằm phát triển một cách thế tục tinh thần lợi tha, sự thăng bằng cảm xúc, sự chú ư và giảm stress. Một buổi gặp gỡ với đức Đạt Lai Lạt Ma về vấn đề đó đă được dự tính tại Washington vào tháng 10 năm 2009. Sau đó, một chương tŕnh sẽ được thử nghiệm trong nhiều trường học Mỹ, và kết quả sẽ được so sánh với một nhóm đối chứng.

Như vậy các
khám phá khoa học mới đó đă thay đổi cách nh́n
của chúng ta về sự tiến hóa của năo trong cuộc
sống. Khung cảnh đă chín mùi để người ta
chấp nhận rằng đó không phải là một chuyện
ḱ quặc, và con người đang tiến sâu vào trái tim của
khoa học thần kinh và sự mềm dẻo thần kinh,
một lănh vực tương đối mới. Đồng
thời, những kỹ thuật mới IRM mỗi ngày một
thêm hiệu năng, điện năo đồ mỗi ngày một
tinh vi hơn, thêm vào sự cộng tác của những nhà
hành thiền giầu kinh nghiệm, đă đưa chúng ta tới
thời đại hoàng kim của « khoa học thần
kinh ». Thật là lư thú và c̣n bao nhiêu điều nữa để
khám phá.
[i] Tường tŕnh của những buổi gặp gỡ đó đă được in trong cuốn sách của Daniel Goleman, Vượt lên khỏi những cảm xúc phá hủy, Robert Laffont, 2003.
[ii] Xem bài báo cáo đầu tiên : A, Lutz, L. L. Greischar , N. B. Rawlings , M. Ricard and R. J. Davidson, “Long-term Mediators Self-induce High-amplitude Gamma Synchrony During Mental Practice” Proceedings of the National Academy of Science, November 16, 2004, vol. 101, no. 46.
[iii] MBSR, « Mindfulness-Based Stress Reduction » (Giảm stress dựa lên phép tỉnh thức) là một sự tập luyện thế tục thiền định theo phép tỉnh thức, dựa lên thiền định theo đạo Phật, đă được phát triển tại các bệnh viện Hoa Kỳ từ hơn 20 năm bởi Jon Kabat-Zinn và hiện nay đang được dùng với kết quả tốt trong hơn 200 bệnh viện để làm giảm các cơn đau sau phẫu thuật, do ung thư và các bệnh nặng khác. Xem Kabat-Zinn, J.et al. (1985) “The clinical use of mindfulness meditation for the self-regulation of chronic pain”, Journal of Behavioral Medicine . 8,163–190
[iv] Các tài liệu về những công tŕnh đó, đặc biệt của Linda Carlson, Đại học Calgary, và John Teasdale (Cambridge) và Zindal Segal (Đại học Toronto), đă được dẫn trong cuốn sách của Matthieu Ricard, Nghệ thuật thiền định, Nil Editions, 2008.
[v] Lutz, A.; Dunne, J. D. and Davidson, R. J.; “Meditation and the Neuroscience of Consciousness: An Introduction”, in The Cambridge Handbook of Consciousness, chap. 19, pp. 497-549, 2007.
[vi] Yongey Mingyur Rinpoche, Sự hạnh phúc của thiền định, Fayard, 2008.
[vii] Về những kỹ thuật theo đạo Phật để tập luyện tâm thức, xem cuốn sách của Matthieu Ricard, Nghệ thuật thiền định, NiL Editions, 2008.