®äc Thêi ®¹i cña nh÷ng th¸i cùc

Đọc Thời đại của những thái cực

Thế kỉ XX ngắn (1914-1991)

của Eric J. HOBSBAWM


Nguyễn Quang

 

Phần 4

 

Trước khi bước vào giai đoạn kết thúc của Thế kỉ ngắn XX, bạn đọc chắc đă nhận thấy : trong ba phần trước, chỉ thấy Lịch sử của một phần nhân loại, một thứ lịch sử “ dĩ Âu vi trung ”, bỏ ra ngoài lề 3/4 loài người sống ở các nước thuộc 3 châu lục (á, Phi, Nam Mĩ) mà người ta thường gọi một cách chung chung là “ thế giới thứ ba ”. Nguyên thuỷ, cụm từ này có một nội dung chính trị cụ thể (và hẹp), tương ứng với một giai đoạn lịch sử chính xác (phong trào của các nước “ không liên kết ” của thập kỉ 50), nhưng trong tâm tưởng của đông đảo công chúng, “ thế giới thứ ba ” đă đồng nhất với hai đặc điểm của lịch sử các nước này từ đầu thế kỉ XX : cuộc đấu tranh giành độc lập và giải quyết t́nh trạng chậm tiến.

 “ Thế giới thứ ba ” : một lịch sử dẫn xuất

Dành cho Thế giới thứ ba một phần nhỏ nhoi như vậy trong cuốn sách, tất nhiên, là sự chọn lựa cố ư của E. J. Hobsbawm. độc giả của Diễn Đàn có thể thắc mắc là cuộc chiến tranh Việt Nam (kéo dài 30 năm, 2 triệu người chết) chỉ được tác giả viết vỏn vẹn 10 ḍng, toàn văn như sau : “ Người Pháp, được sự ủng hộ của người Anh, rồi người Mĩ, đă tiến hành một cuộc chiến tranh tuyệt vọng nhằm tái chinh phục và duy tŕ một nước (Việt Nam) chống lại cuộc cách mạng trên đà thắng lợi. Bại trận, năm 1954 họ phải rút đi, nhưng Hoa Ḱ đă ngăn cản sự thống nhất quốc gia để duy tŕ một chế độ chư hầu ở miền Nam. Khi chế độ này sắp sụp đổ tới nơi th́ Hoa Ḱ lao ḿnh vào một cuộc chiến tranh kéo dài 10 năm ở Việt Nam. Cuối cùng bị thua, năm 1975 họ phải rút đi sau khi đă ném thả trên đất nước đau thương này một khối lượng chất nổ lớn hơn cả số bom đạn trên toàn thế giới trong cuộc đại chiến lần thứ nh́ ” (tr. 287).

Nhưng sự chọn lựa của tác giả – thu nhỏ phần nói về Thế giới thứ ba trong lịch sử thế kỉ XX – cũng dễ hiểu nếu suy xét về mặt quyền lực. Hobsbawm giải thích một cách sáng suốt : “ Trong thế kỉ XIX, một nhúm nước – chủ yếu là những nước ở ven bờ bắc đại Tây Dương – đă chinh phục phần đất c̣n lại ở các khu vực ngoài châu âu một cách quá dễ dàng như trở bàn tay (...) Các quốc gia Tây phương c̣n chiếm ưu thế hiển nhiên hơn nữa nhờ hệ thống kinh tế và xă hội, tổ chức và công nghệ học. Chủ nghĩa tư bản và xă hội tư sản đă biến đổi và cầm đầu thế giới. Họ đă đề ra một mô h́nh – cho đến năm 1917, đó là mô h́nh duy nhất – cho tất cả những ai không muốn bị đè bẹp dưới cỗ xe của Lịch sử. Sau 1917, chủ nghĩa cộng sản đề ra một mô h́nh khác : nhưng xét cho cùng, cũng một kiểu, khác chăng là mô h́nh này không cần tới tư doanh và các định chế liberal. Cho nên, lịch sử thế kỉ XX của thế giới phi Tây phương chủ yếu bị quy định bởi các mối quan hệ của nó với những cường quốc đă trở thành bá chủ hoàn cầu từ thế kỉ XIX. Trong chừng mực đó, lịch sử của Thế kỉ ngắn XX bị bóp méo về mặt địa lí, sử gia muốn viết lịch sử Thế kỉ XX nhất thiết phải tập trung vào động năng của sự biến đổi thế giới [chúng tôi in đậm]. Điều đó không có nghĩa là người viết sử chia sẻ tinh thần tự cao trịch thượng, quan niệm dĩ Âu (Mĩ) vi trung, thậm chí ḱ thị chủng tộc, và sự tự măn hoàn toàn vô lối, vẫn c̣n khá phổ biến ở các nước Tây phương (...). Song sự thật là, trong Thế kỉ ngắn XX, động lực của đại bộ phận lịch sử [của thế giới thứ ba] là một động lực dẫn xuất (dérivé), không phải là động lực căn nguyên (original). Chủ yếu, đó là những nỗ lực của những thành phần ưu tú trong các xă hội [thuộc địa, nửa thuộc địa hoặc lệ thuộc] nhằm sao chép mô h́nh mà phương Tây là người khai phá : mô h́nh này, dưới dạng tư bản chủ nghĩa hay xă hội chủ nghĩa, trước hết được coi như khuôn mẫu của những xă hội tạo ra tiến bộ, giàu mạnh và văn hoá nhờ sự “ phát triển ” kinh tế và khoa học kĩ thuật. Gọi nó là “ tây phương hoá ” hay “ hiện đại hoá ” hay ǵ ǵ đi nữa, nó là mô h́nh khả thi duy nhất ” (tr. 266).

Sự phân tích này xem như rất xác đáng cho hai phần ba đầu thế kỉ của lịch sử thế giới thứ ba (giai đoạn đấu tranh giải phóng, xem phần dưới), liệu có c̣n giá trị cho phần ba cuối của thế kỉ nữa chăng ? Với sự xuất hiện của cả trăm quốc gia độc lập mới (85 % dân số toàn cầu), và trong số ấy, trỗi lên những cường quốc công nghiệp, thương nghiệp hay tài chính mới (Brasil, các nước “ rồng ”, “ cọp ” châu Á, và ngay cả Trung Quốc, mà người ta vẫn báo hiệu sự “ thức tỉnh ” vị lai) ; với sự tŕ trệ “ mạt kỉ ” của các nền kinh tế và các xă hội Tây phương, một số nhà tương lai học đă không ngần ngại tiên đoán “ quả lắc sẽ quay sang bên kia ” (26). Hobsbawm nhận xét, dù cho “ những cường quốc lớn năm 1914, tất cả đều là những nước Âu Châu, đă biến mất (...) hoặc đă xuống cấp, chỉ c̣n ở tầm cỡ khu vực, thậm chí tỉnh lẻ (...), song sự đổi thay này có ư nghĩa ǵ lớn chăng, ngoại trừ đối với các nhà sử học chính trị ? Có lẽ là không, v́ nó chỉ phản ánh những biến chuyển thứ yếu trong cục  diện kinh tế, trí tuệ và văn hoá thế giới. [Nếu ta coi] Hoa Ḱ là sự triển khai hải ngoại của châu Âu, gắn liền với Cựu Thế giới dưới ngọn cờ chung “ văn minh Tây phương ” (...), th́ đứng về toàn cục mà nói, các nước công nghiệp hoá từ thế kỉ XIX vẫn duy tŕ tập trung tài nguyên, quyền lực kinh tế, khoa học và kĩ thuật của thế giới, dân chúng các nước này vẫn có mức sống cao hơn hẳn đồng loại. Vào cuối thế kỉ, điều này vẫn hoàn toàn nghiệm đúng, mặc dầu các nước ấy đă phi công nghiệp hoá và di chuyển sản xuất sang các lục địa khác. Trong chừng mực ấy, ấn tượng về một thế giới “ Tây phương ”, “ Âu Mĩ ” đang thoái trào, đi xuống, là một ấn tượng hời hợt ” (tr. 36).

Chẳng lẽ các con “ rồng ” chỉ là những con thằn lằn ? Sau cuộc khủng hoảng châu Á năm 1997 – và bước sang thế kỉ mới, t́nh trạng tŕ trệ vẫn kéo dài – nhiều nhà b́nh luận, hôm qua c̣n ca ngợi hết lời, hôm nay hốt hoảng trước sự “ dễ vỡ ”, trước t́nh trạng “ latinh hoá ” của khu vực Đông Nam Á “ trong một thời gian dài c̣n lẽo đẽo chạy theo sau (27). Sự bi quan quá mức của ngày hôm nay cũng lố bịch như sự lạc quan quá mức của ngày hôm qua. Thế kỉ XXI có phải là thế kỉ của “ rồng ” và “ cọp ” không, điều đó chỉ tương lai mới có thể trả lời. Đó là một khả năng, song c̣n xa mới là điều chắc chắn

Từ các đế chế đến Thế giới thứ ba

Ta hăy rời tương lai học để trở về với lịch sử. Đối với đa phần các nước thuộc thế giới thứ ba, lịch sử giai đoạn đầu của thế kỉ XX là lịch sử của quá tŕnh giải thực. Trước thế chiến 1914, hầu hết các khu vực châu Á, châu Phi và vùng đảo Caraïbes ở trong t́nh trạng lệ thuộc, nghĩa là nằm dưới sự chiếm hữu, cai quản hay chỉ huy của một nhúm Nhà nước thuộc bắc bán cầu. Đó cũng là số phận của cả những nước độc lập về danh nghĩa như Trung Quốc – người ngoại quốc được hưởng pháp quyền trị ngoại (droits extra-territoriaux) và trên thực tế đă kiểm soát một số chức năng chủ yếu của Nhà nước – hoặc các nước châu Mĩ Latinh bị Hoa Ḱ coi là cái “ sân sau ” (học thuyết Monroe). Chiến tranh thế giới lần thứ nhất đă lay chuyển dinh cơ của chủ nghĩa thực dân khi nó phá vỡ hai đế chế (Đế chế Đức và Đế chế Ottoman, bị Anh và Pháp dùng quy chế “ uỷ thác ” để tước đoạt và chia nhau các thuộc địa (28) ) và “ bỏ vào trong ngoặc đơn ” đế chế thứ ba là Đế chế Nga. Song các đế chế c̣n tồn tại, bề ngoài trông như được củng cố, nhưng bên trong đă bị chấn thương : các cuộc biến loạn đă liên tiếp xảy ra ở các thuộc địa Anh giữa hai cuộc đại chiến (Ireland, Trung đông, và nhất là ấn độ, nếu không có Gandhi chủ trương ôn hoà th́ đă nổ ra nội chiến). Sở dĩ hệ thống thuộc địa c̣n mua thêm được thời gian là v́ cuộc đấu tranh chống thực dân do những phần tử ưu tú thiểu số lănh đạo  rất ít khi động viên được đông đảo quần chúng – quần chúng chỉ tham gia khi chính quyền thực dân đàn áp tới mức quá bỉ ổi (ví dụ như cuộc tàn sát ở Amritsar (29) ), khi sự ḱ thị chủng tộc của thực dân đă tạo ra sự liên đới giữa mọi tầng lớp dân chúng, khi những lănh tụ có uy tín (như Gandhi) biết vận dụng tinh thần dân tộc và kết hợp được truyền thống với hiện đại... Cuộc đấu tranh chuyển sang một qui mô khác với cuộc đại khủng hoảng 1929-1933 làm rúng chuyển thế giới thuộc địa : đây là lần đầu tiên nổ ra mâu thuẫn lớn giữa quyền lợi kinh tế của thuộc địa và của chính quốc, giúp cho các tổ chức chống thực dân tạo ra cơ sở vận động quần chúng về mặt chính trị. Lấy trường hợp đế chế Anh giữa hai cuộc thế chiến làm ví dụ, Hobsbawm nhận xét : “ chưa bao giờ nước Anh kiểm soát (một cách chính thức hay không chính thức) được một bộ phận lớn rộng như vậy trên địa cầu, nhưng cũng chưa bao giờ các nhà lănh đạo Anh lại cảm thấy không chắc có khả năng duy tŕ ưu quyền đế quốc của họ đến mức ấy ” (tr. 280). Song ông cũng viết : “ tuy sự kết liễu chế độ thuộc địa là một khả năng, nhưng đến năm 1939, khả năng ấy xem ra chưa thực sự gần kề. Cuộc thế chiến lần thứ hai đă làm biến đổi hẳn t́nh h́nh ấy. Đại chiến lần thứ hai hiển nhiên là một cuộc chiến tranh phản đế (mặc dầu nó c̣n có một kích thước lớn hơn thế rất nhiều) và, cho đến năm 1943, các đế quốc thực dân lớn nằm trong phe thua trận (...). Sự kiện người da trắng và Nhà nước của họ có thể bị chiến bại một cách nhục nhă và thảm hại là một đ̣n chí tử đánh vào chế độ thực dân ” (tr.285-286). Đại chiến đang tiếp diễn, vào đúng năm 1942, Ấn độ, thuộc địa trung tâm của đế quốc Anh, bị lay chuyển bởi cao trào đấu tranh Quit India. Cùng chẳng đă, và cũng phải nói : biết rút kinh nghiệm, người Anh nói chung đành chấp nhận công cuộc giải thực. Khốn nỗi,  sau năm 1945, các đế chế khác – Hà Lan và nhất là Pháp – lại dùng quân sự để giữ chặt thuộc địa, gây ra ở Việt Nam, Algé-rie... những cuộc chiến tranh giải phóng trường ḱ, tàn khốc, tốn kém với biết bao thảm hoạ cho các dân tộc.

Ngoại trừ Đông Dương, cuộc giải thực ở châu Á đă hoàn thành vào đầu thập kỉ 50. Năm 1956, cuộc viễn chinh ở kênh đào Suez thất bại, kết thúc “ thời ḱ Anh ở Trung Đông ” (tức là chấm dứt bá quyền của đế quốc Anh đă được thiết lập ở vùng này từ năm 1918). đầu thập niên 60, cuộc giải thực ở châu Phi – đổ máu hay dưới dạng “ pḥng ngừa ” – cũng kết thúc, trừ một vài “ vùng lơm ” của cái mà Hobsbawm gọi là “ chủ nghĩa thực dân h́nh thức ” : Angola thuộc Portugal, Nam Rhodesia (ly khai), Nam Phi (phải đến cuối thế kỉ, chế độ apartheid mới bị đập tan), và có lẽ phải kể Israel nữa (30). Thế là “ thời đại đế chế đă chấm dứt. Chưa đầy ba phần tư thế kỉ trước đó, nó trông như c̣n vững như bàn thạch ” (tr. 293).

Thay thế các đế chế bằng cái ǵ ? “ Không có ǵ đáng ngạc nhiên là việc mấy chục nước hậu thuộc địa ra đời sau Đại chiến thế giới lần thứ hai, cũng như phần lớn các nước châu Mĩ Latinh là những nước đă thuộc lănh vực của thế giới đế chế và công nghiệp cũ, đă nhanh chóng tập hợp lại dưới danh nghĩa “ thế giới thứ ba ” : cụm từ này dường như được tân tạo vào năm 1952, để đối lập với “ thế giới thứ nhất ” của các nước tư bản phát triển và “ thế giới thứ hai ” của các nước cộng sản (...). Sự chọn lựa này không phải là không có căn cơ trong chừng mực tất cả các nước này đều là những nước nghèo, nước nào cũng bị lệ thuộc, chính phủ nước nào cũng muốn “ phát triển ”, và sau Thời ḱ đại tŕ trệ, sau Đại chiến thế giới lần thứ hai, không một chính phủ nào lại tin được rằng thị trường tư bản hay sáng kiến tự phát của mỗi nước có thể giúp họ đạt được mục tiêu phát triển. Thêm nữa (...), tất cả những ai có một chút tự do hành động đều không muốn gia nhập một trong hai khối liên kết, họ đều muốn lánh xa một cuộc Đại chiến thế giới lần thứ ba mà ai cũng sợ sẽ xảy ra ” (tr. 466). Thế là phong trào các nước “ không liên kết ” đă chính thức ra đời năm 1955 tại hội nghị Bandung (Indonesia), tức là vào lúc mà quá tŕnh giải thực ở châu Á (trừ ba nước Đông Dương) đă hoàn tất. Người sáng lập và nhân vật chủ chốt của phong trào là những nhà cách mạng chống thực dân lăo thành (Nehru, Sukarno, Nasser), mỗi người đều có xu hướng xă hội chủ nghĩa theo cách của ḿnh, do đó, mặc dầu về mặt danh nghĩa họ là “không liên kết”, thiện cảm đẩy họ lại gần Liên Xô, hay đúng hơn, làm cho họ xa dần Hoa Ḱ từ buổi đầu chiến tranh lạnh đă trở thành hậu thuẫn của những chế độ bảo thủ tồi tệ nhất thế giới. Phải nói, năm 1959 (sau ngày cách mạng Cuba thành công), khi nhóm “ không liên kết ” (đầu tiên chủ yếu là á phi) trở thành một tổ chức ba lục địa, th́ các nước hội viên châu Mĩ Latinh là những nước ít chịu nổi “ Big Brother ” Hoa Ḱ (điều này cũng dễ hiểu). Tuy nhiên, các nước “ không liên kết ” không hề muốn đứng vào bên nào  trong cuộc đụng độ toàn cầu giữa hai siêu cường, v́ họ biết rằng trong một cuộc giao tranh như vậy, họ sẽ ở tuyến đầu (Triều Tiên, Việt Nam, Cuba).

Trong hai thập niên, “ chủ nghĩa thế giới thứ ba ” rất thịnh hành, không những ở các nước chậm phát triển, mà ở cả “ thế giới thứ nhất ”, với những phong trào ủng hộ khá ngoạn mục (nhất là ở các nước Bắc Âu như Thuỵ điển), và ngoạn mục không kém là sự hấp dẫn của nó đối với phong trào thanh niên phản kháng (chân dung của Che được in trên ngực áo T-shirts, khẩu hiệu Ho Ho Ho Chi Minh được hô vang trong mọi cuộc biểu t́nh), và có lẽ tới cả xu hướng cực đoan và cực ḱ phi lí của những nhóm thiểu số sinh viên (sau cao trào 1968) đă tiến hành các hoạt động khủng bố thành thị (Lữ đoàn Đỏ ở Italia, Phân bộ Hồng quân ở Đức, Hành động Trực diện ở Pháp...). Điều nghịch lí là ở thời điểm đó (đầu thập kỉ 70), khái niệm thế giới thứ ba không c̣n cơ sở thực tiễn nào nữa : sự phát triển kinh tế đă làm nổ tung huyền thoại về một thế giới thứ ba thuần nhất. Giữa những nước xuất khẩu dầu mỏ trong tổ chức OPEP, ngồi mát hốt bạc (với sự đồng loă của các đại công ti dầu khí : 1973 là năm cú “ sốc ” dầu mỏ thứ nh́) ; các NPI (các nước mới công nghiệp hoá) một chân c̣n ở thế giới thứ ba, chân kia đă bước sang thế giới thứ nhất, sau quá tŕnh phát triển với nhịp độ tăng trưởng chưa từng thấy trong lịch sử (bốn con “ rồng ” châu Á Thái B́nh Dương, và cả Ấn độ, Brasil, Mexico...) ; và ở phía dưới cùng của bậc thang, các nước gọi là “ đang phát triển ”, một cụm từ mĩ miều do các tổ chức quốc tế tạo ra để chỉ định tập hợp 3 tỉ người (đa số ở châu Phi) sống ở những nước nghèo, càng nghèo lại càng tụt hậu..., giữa các nước kể trên, có c̣n ǵ là tương đồng, là mẫu số chung nữa không ? Hầu như không. Bằng chứng là cuộc xâm lăng thậm vô lí của Irak ở Koweit năm 1989.

Hiện đại và chủ nghĩa truyền thống

Ta hăy trở lại quá khứ để nhận ra những tuyến lực xuyên suốt lịch sử thế giới thứ ba trong Thế kỉ ngắn XX, từ cuộc giải thực đến giai đoạn phát triển (hay... không phát triển), một ḍng lịch sử đầy gập ghềnh, hỗn loạn. Từ năm 1945, “ thế giới thuộc địa đă biến đổi toàn diện, trở thành một loạt những quốc gia về mặt danh nghĩa có đầy đủ chủ quyền, thành thử sau đó, người ta ngỡ rằng đây là một hiện tượng tất yếu : hơn thế nữa, người ta ngỡ rằng dân chúng các nước thuộc địa đó đă mong muốn như vậy ” (tr. 275). Thực tiễn phức tạp hơn nhiều lắm. “ Khát vọng giải phóng chắc chắn đă tồn tại ở các nước đă có lịch sử lâu đời, có truyền thống tổ chức chính trị : đó là trường hợp các đế chế lớn ở châu Á (Trung Quốc, Ba Tư, Ottoman) nhất là khi các thực thể chính trị ấy được xây dựng trên nền tảng của một Nhà nước - dân tộc [như nhà Hán ở Trung Quốc, hay đạo Islam chiite] (...). Nhưng phổ biến nhất là trường hợp dân chúng hoàn toàn không có ư thức ǵ về một thực thể chính trị lănh thổ thường trực, với những biên giới quốc gia cố định, đặt dưới sự cai quản của một chính quyền thường trực duy nhất (tóm lại, ư thức về một quốc gia độc lập, có chủ quyền), hay ít nhất của một chính quyền cấp cao hơn là thôn làng [đó là trường hợp châu Phi và một số vùng Trung đông] ” (tr. 275). Đó là một trong những nguyên nhân gây ra t́nh trạng không ổn định ở thế giới hậu thuộc địa, mọi cuộc xung đột có tính chất khu vực (như cuộc diệt chủng ở Rwanda và cuộc chiến tranh vùng Đại Hồ) đều nhằm “ thanh toán ” những vấn đề đường biên giới do đế quốc vạch ra. Cũng v́ thế mà trong thời ḱ đầu của các cuộc đấu tranh chống thực dân, “ nhiệm vụ lớn của các phong trào dân tộc chủ nghĩa [nói chung là của các tầng lớp thiểu số tư sản] là tập hợp được đông đảo quần chúng gắn bó với truyền thống và chống lại những ǵ là hiện đại, mà lại không tác động tới những dự án hiện đại hoá của họ ” (tr. 276). Điển h́nh là Gandhi (1869-1948), “ là người đă thành công trong việc huy động hàng chục triệu người ở các làng thôn và khu chợ bazar Ấn độ qua cùng một lời kêu gọi nhắm vào tinh thần dân tộc và tâm linh Hindu, đồng thời lại tranh thủ được sự đồng t́nh của những người chủ trương canh tân [trong một ư nghĩa nào nó, Gandhi cũng là một người canh tân v́ ông phủ nhận chế độ đẳng cấp] ” (tr. 276). Song cuối cùng Gandhi đă thất bại : người ám sát Gandhi là một người theo phái Tilak (31), c̣n nước Ấn Độ độc lập sẽ đặt dưới quyền của đảng Quốc Đại, là những người “ không màng tưởng ǵ sự hồi sinh của nước Ấn độ xưa kia ”, họ “ không hề thiện cảm hay cảm thông  ǵ [với những người chủ trương trở về truyền thống], chỉ chú mục vào phương Tây, bị tiến bộ của phương Tây quyến rũ mạnh mẽ ” (Nehru, 1936).

Như vậy là khởi đầu cuộc đấu tranh giải phóng, ở Ấn độ, ở Trung Quốc hay ở Trung Đông, đâu đâu cũng một cung cách : một nhóm nhỏ những người chủ trương canh tân, không phải là đạo sĩ, t́m cách tranh thủ quần chúng vốn thù ghét thực dân nhưng cũng chẳng ưa ǵ giới tư sản thượng lưu tin tưởng rằng canh tân là cần thiết. Việc giới tư sản thượng lưu lănh đạo cuộc đấu tranh là một hiện tượng kinh điển, v́ tại các nước bị trị, “ hầu như không có những định chế chính trị dân chủ, chỉ có một tầng lớp rất nhỏ mới có đủ tri thức và được đào tạo, hoặc là có những căn bản sơ yếu nhất mà thôi (32) ” (tr. 268).

Câu hỏi thú vị đặt ra là tại sao giới lănh đạo lại chọn lựa chủ trương canh tân để gặp khó khăn trong việc vận động quần chúng như vậy. Một sự lựa chọn không tự nhiên chút nào. Tự nhiên hơn và dễ dàng hơn, lẽ ra là dựa vào truyền thống (tiếng Pháp hiện hành dùng chữ fondamentalisme) hay tôn giáo (chủ nghĩa toàn thống, intégrisme). Thật thế, điểm lại lịch sử, dù sơ lược, cũng thấy “ không có một phong trào giải phóng thành công ở thế giới lạc hậu trước thập niên 70 lại bắt nguồn hay cảm hứng từ một hệ tư tưởng truyền thống hoặc tân truyền thống. Phải đợi đến những thập niên cuối cùng của thế kỉ XX  mới thấy trỗi dậy chủ nghĩa truyền thống, mới chứng kiến cảnh tượng ḱ quặc là một số trí thức say mê những cái mà cha ông của họ, có văn hoá, sẽ gọi là mê tín hoặc man rợ ” (tr. 268). Thế hệ cách mạng đầu tiên, rút kinh nghiệm thất bại của các cuộc nổi dậy của nông dân, nhận định rằng canh tân là bảo đảm cho đấu tranh hiệu quả (33), họ chọn sự canh tân v́ hiệu quả chứ không phải từ những suy tính về đạo đức : “ Về mặt hệ thống đạo đức mà nói, với những quan niệm về chỗ đứng của con người trong thế gian, nhận chân ra bản chất và quy mô sự huỷ diệt do “ phát triển ” và “ tiến bộ ” đă gây ra, th́ các hệ tư tưởng và hệ giá trị tiền tư bản hay phi tư bản thường hơn hẳn những tín điều mà tàu chiến, thương nhân, các nhà truyền giáo và viên chức thực dân đă đem lại. [Nhưng khi các hệ tư tưởng đó] đi ngược lại quá tŕnh phát triển trong thực tiễn, chứ không phải chỉ trên mặt lí thuyết, th́ thất bại và thua trận là cái chắc. Dùng phù phép để bẻ cong đường bay của đạn đại liên th́ dù tin tưởng mạnh mẽ và thành khẩn tới đâu, cũng ít khi thành công. Điện thoại và điện tín dầu sao cũng là những phương tiện thông tin hiệu quả hơn khả năng thần giao cách cảm ” (tr. 267).

Tóm lại, bất luận các nhà cách mạng đă làm nên lịch sử thế giới thứ ba đă đeo đuổi những mục tiêu tự giác hay không tự giác như thế nào, th́ quá tŕnh canh tân (theo mô h́nh phương tây) đă mang lại những phương tiện cần thiết để đạt mục tiêu đó : hệ tư tưởng, cương lĩnh chính trị, phương pháp sinh hoạt công cộng (báo chí, hội họp, tuyên truyền, vận động quần chúng), tổ chức chính đảng (chính đảng tư sản như đảng Quốc Đại Ấn Độ hay Trung Hoa Quốc Dân đảng, hoặc đảng cộng sản nửa bí mật tổ chức theo mô h́nh bôn sê vich (34))... Tương tự, sau ngày độc lập, phần lớn các nước thuộc địa cũ đều tổ chức, hoặc bị ép tổ chức theo các hệ thống kinh tế - chính trị rập khuôn của chính quốc cũ. Số nhỏ c̣n lại (nói chung, xuất phát từ phong trào cách mạng xă hội hoặc cuộc chiến tranh giải phóng trường ḱ) th́ chọn mô h́nh xô viêt. Thành ra, về mặt lí thuyết, toàn bộ thế giới thứ ba đều theo chế độ “ dân chủ ” (nghĩa là có những nước “ dân chủ ” hơn những nước khác, v́ nhiều nước bệ mô h́nh Tây phương lên cái nền cũ là dạng thức quyền lực thị tộc, vi phiệt (35) hay Khổng giáo). điều cần nhấn mạnh là tất cả đều là những cơ cấu “ nhập khẩu ”, nên Hobsbawm mới nói rằng lịch sử thế giới thứ ba “ dẫn xuất ” (dé- rive) từ lịch sử của hai thế giới kia.

Trở lại lịch sử cuộc giải thực và cuộc khủng hoảng 1929-1933. Như đă nói ở phần trên, chính cuộc khủng hoảng kinh tế đă thúc đẩy quần chúng thuộc địa tham gia cuộc đấu tranh chống thực dân. Sự thúc đẩy này gần như có tính chất của một định luật cơ học. Thật vậy, vào cuối Thời đại các đế chế, nền kinh tế tư bản thế giới (dù ngừng lại ở bên này biên thuỳ Liên Xô) đă thu hút tài nguyên, văn hoá và chính thể của mọi nước vào phạm vi của nó như một con “ bạch tuộc ” (chữ của tác giả). Trong hệ thống ấy, kinh tế thuộc địa giữ một vị trí đặc biệt. đối với thị trường thế giới, “ giá trị [của thuộc địa] chủ yếu là giá trị của người cung cấp vật phẩm cơ bản – nguyên liệu, năng lượng, sản phẩm nông nghiệp và chăn nuôi – và của nơi đầu tư cho tư bản phương bắc, đặc biệt dưới dạng công trái hay xây dựng cơ sở hạ tầng (giao thông vận tải, thành phố), nếu không có th́ không thể khai thác tài nguyên của các thuộc địa ” (tr. 271). Tuy nhiên đầu tư như vậy hoàn toàn không có nghĩa là chính quốc muốn công nghiệp hoá các nước thuộc địa. Thí dụ như đường bộ hay đường xe lửa (ngày nay vẫn c̣n được sử dụng) không mang lại công nghiệp cho Việt Nam, và chính quyền thực dân mở mang đường sá cũng không hề nhắm mục đích ấy. “ Phần lớn chính phủ và doanh nhân các nước phương Bắc đeo đuổi một mô h́nh trong đó thuộc quốc bán sản phẩm cơ bản cho chính quốc và dùng tiền đó để mua hàng hoá công nghiệp của chính quốc. [Quyền lợi tự nhiên của chính quốc và doanh nhân chính quốc] là làm cho thị trường thuộc địa hoàn toàn lệ thuộc vào nền sản xuất của chính quốc (...) [và mặt khác] củng cố độc quyền công nghiệp của những trung tâm sản xuất cổ truyền của chính quốc. Trong chừng mực ấy, người macxit  trong giai đoạn giữa hai cuộc đại chiến và những nhà lí luận về sự lệ thuộc ở nhiều trường phái khác nhau có đầy đủ cơ sở khi họ tố cáo chủ nghĩa đế quốc, coi nó là phương tiện để duy tŕ sự lạc hậu của các nước thuộc địa ” (tr. 272-273). Cố nhiên, cơ cấu kinh tế thuộc địa làm cho nó rất dễ bị chao đảo : trong cuộc khủng hoảng, giá cả nguyên vật liệu (nguồn sống của các nước thuộc địa) sụt nhanh và nhiều hơn giá hàng công nghiệp Tây phương. Trước đó, về toàn cục mà nói, thời ḱ đế chế là một thời ḱ tăng trưởng hầu như liên tục, với những tác động tích cực của nó, nên trong một ư nghĩa nào đó, chủ nghĩa thực dân có mặt “ chấp nhận được ”. Kinh tế suy sụp làm đảo lộn nền tảng trật tự đó, gây ra mất ổn định trong đời sống chính trị quốc gia cũng như quốc tế. Giới thượng lưu mất đi các ưu quyền đă đành, “ lần đầu tiên (trong những thời ḱ không có chiến tranh), cuộc sống của người dân b́nh thường bị đảo lộn như trải qua những động đất, mà rơ ràng đây lại không phải là thiên tai, cầu nguyện cũng vô phương, chỉ c̣n con đường phản đối ” (tr. 283). Thập kỉ 1930 do đó là những năm tháng then chốt của thế giới thứ ba, “ phần nào v́ khủng hoảng đưa tới triệt để hoá về chính trị, nhưng quan trọng hơn, nó tạo dịp tiếp xúc giữa các phần tử chính trị thiểu số và người dân b́nh thường (...). Những năm khủng hoảng đă cắt đứt mối liên hệ giữa chính quyền thuộc địa và quần chúng nông dân, do đó mở ra một không gian mới trong cục diện chính trị ” (tr. 283-284).

Một khi quần chúng đă bước lên sân khấu chính trị, không dễ ǵ họ chịu rút lui, mặc dù nh́n về bề ngoài, thấy họ im ắng cam phận trong những thập niên sau ngày độc lập. Trong khi đó, nền kinh tế đế quốc chủ nghĩa đă mang lại nhiều biến đổi trong cuộc sống của giới nông dân, nhất là ở những vùng sản xuất hướng về xuất khẩu (đảo lộn lớn nhất là trong vùng trồng cao su, lợi nhuận cao hơn trồng lúa). Cuộc cải cách ruộng đất được tiến hành rộng răi mọi nơi, dưới bất cứ chính thể nào, trong giai đoạn 1945-1960 (tr. 462-463), đă làm cho nông dân thấy ra rằng hiện đại hoá mang lại hứa hẹn hơn là đe doạ. Bất luận chính trị của nền kinh tế thuộc địa là như thế nào, sự phát triển các thị trường địa phương, sau đó là sự phát triển công nghiệp địa phương (đúng như sự tiên liệu của chủ nghĩa Marx về sự triển khai tận cùng của cách mạng công nghiệp, điều này sẽ nói ở một phần dưới) đă tạo ra và thúc đẩy một cuộc di dân khổng lồ từ nông thôn về các đại đô thị mới thành h́nh ở các nước phương Nam, khai sinh ra một “ nền kinh tế không chính thức ” (économie informelle) khá đặc trưng của thế giới thứ ba, trước khi mà “ sự phân công lao động quốc tế ” mới (giữa các nước phát triển và các nước chậm phát triển, nhưng là trong nội bộ thế giới thứ ba, xem ở dưới) lại tạo ra một cuộc di dân mới, vượt qua những ranh giới khu vực và phân loại. Kết quả những cuộc biến thiên ngấm ngầm ấy, vào những năm bản lề 70-80, các cuộc vận động quần chúng sẽ nổi lên công khai, dưới hai dạng đối lập. Ở các NPI (như Brasil, Hàn Quốc...), những biến đổi cơ cấu trong xă hội đă đưa đời sống chính trị vào con đường quen thuộc của thế giới thứ nhất : sự h́nh thành những giai cấp công nhân công nghiệp mới đ̣i hỏi sự tôn trọng quyền lợi thợ thuyền và công nhận các công đoàn. C̣n ở những vùng rộng lớn khác của thế giới thứ ba (vừa mất ổn định, vừa dễ bùng nổ), chủ nghĩa truyền thống (đôi khi kết hợp với chủ nghĩa toàn thống) đă hồi sinh mạnh mẽ, với đỉnh cao là cuộc cách mạng Iran (1979) : trong khi động lực của thời đại 1789-1917 (từ Cách mạng Pháp đến Cách mạng Nga) có vẻ như đă mất đà, cuộc cách mạng Islam đang giương cao ngọn đuốc cách mạng xă hội. Nhưng lần này, để chống lại hiện đại.

     Nguyễn Quang

bản dịch của Kiến Văn

Diễn Đàn Forum N°108 - tháng 6.2001

Ḱ sau :  Thời mạt kỉ

 

(26)     Một số nhà kinh tế, chỉ dựa vào những con số cộng, c̣n liều lĩnh xếp Trung Quốc là cường quốc kinh tế đứng đầu thế giới.

(27)     J.-C. Pomonti, L’Asie du Sud-Est durablement à la traine, Le Monde ngày 02.05.2001.

(28)     Dấu hiệu chứng tỏ chủ nghĩa đế quốc càng ngày càng bị chê trách : người ta không dám nói tới “ thuộc địa ” nữa, mà nói lănh thổ “ uỷ thác ” (mandat), nghĩa là nhân loại để tỏ ḷng biết ơn đă “ uỷ thác ” những lănh thổ ấy cho các cường quốc chiến thắng, không phải để “ bóc lột ” các “ dân tộc bán khai ” (cường quốc nào lại “ nghĩ ” đến chuyện bóc lột như vậy, Hobsbawm viết mỉa, tr. 59) mà là để dẫn dắt họ trên đường tiến bộ.

(29)     Năm 1919, ở Amritsar (Ấn Độ), một tên tướng Anh đă ra lệnh nă súng vào đám đông tay không đang chen chúc trong một khoảng đất khép kín, không lối thoát. Trong một chuyến đi thăm Ấn Độ mới đây, hoàng tế Philip đă t́m cách giảm nhẹ tội ác này, khiến cho dư luận hết sức công phẫn.

(30)     Để tránh đi vào một cuộc luận chiến bất tận, xin nói ngay : đây là lập trường chung của các nước Arập. Đối với họ, Israel chỉ là khúc ruột thừa của Tây phương ở Trung Đông. Thực tế là vậy.

(31)     Bal Ganghudur Tilak (1856-1920), một trong những chiến sĩ quốc gia đầu tiên của Ấn Độ, chủ trương trở về với nền văn minh và tôn giáo Ấn Độ cổ đại. Gần đây, những người kế tục Tilak đă thắng cử đảng Quốc Đại và lên nắm chính quyền.

(32)     Nhắc lại vài con số : trước độc lập, 90 % dân số Ấn Độ mù chữ, và trước năm 1914, trên 600 người dân mới có một người biết nói tiếng Anh (hay một tiếng phương Tây).

(33)     Nói đến canh tân và hiệu quả, kẻ viết bài này rất mong được độc giả lí giải cho điều bí ẩn này : người Trung Hoa đă sáng chế ra thuốc nổ, nhưng cái máy nỏ (arquebuse) và súng đại bác lại do người Âu sáng chế.

(34)     Người ta nhớ tới bài viết nổi tiếng của Hồ Chí Minh khi t́m thấy ở chủ nghĩa macxit-leninit con đường cứu nước.

(35) Oligarchie