Nam Dao, Phan Tấn Hải, Nguyễn Lương Vỵ

 

 

Nam Dao giới thiệu

Nhà thơ Nguyễn Lương Vy.

người Tam Kỳ, Quảng Nam,  sau 40 năm nặng nợ câu chữ  đã cho ra mắt 6 tập thơ: Âm vang và sắc mầu (1990), Phương Ý (2000), Hoà Âm Âm Âm Âm...(2007), Huyết Âm (2008), Tinh Âm (2010), Bốn câu Thất huyền Âm (2011) (đặc biệt được Phan Tấn Hải chuyển sang Anh ngữ). Riêng Tám câu Lục huyền Âm, hiện còn ở dạng bản thảo,  nhà thơ cho phép đưa lên  amvc  để tặng độc giả  như một món quà tri Âm.

Để ý từ Âm vang tập đầu còn ở Sài Gòn đến ...Âm Âm Âm  do Thư Ấn Quán  phát hành sau 7 năm nhà thơ luân lạc quê người,  ta thấy  toàn là Âm, Âm  và Âm. 

Nhưng khởi thủy là Lời hay là  Âm? không Âm, có Lời được không? không Lời, có Ý được không? không Ý, hiện tồn làm sao khác hư vô?

Thôi thì ta cứ cho rằng khởi thủy là Âm, và tìm cách cảm ( chứ không  chỉ hiểu) tác giả của những tập thơ đầy Âm, từ Huyết Âm trở đi. 

Khởi kỳ thủy là Âm?!/ Âm huyết lá/ Huyết thi ươm nắng lạ/ Đá khóc sắc chiều tà viễn xứ/ Bướm rung chuông/ Rung hết vết thương sâu/

...

Khởi kỳ thủy là Âm?!/ Chôn hoàng hôn trong huyết lá/ Chôn tịch liêu trong huyết thi/ Rừng âm mưa vô sắc/ Biển âm mưa vô sắc/ Huyết âm em trong giọt nước sơ huyền...

Âm trong những câu thơ trên có phải là những âm đầu khi một cái gì đó vỡ tung ra để cấu thành vũ trụ trong biển lửa tràn trề thứ năng lượng vô cùng lớn một cuộc sinh hóa? Không, có lẽ không! Khởi kỳ thủy, Tâm bất bình tắc minh ( chữ Hàn Dũ), nên Âm gào tiếng đời? Khởi đi từ con người, chữ Tâm ở đâu bỗng lộ diện, như:

Vết thương ta ủ trong tiền kiếp

Mỗi chữ oan khiên hóa núi ngồi

Giọt huyết bơ vơ lơ láo nhịp

Lầm bầm cho đỡ nhớ

Vậy thôi !

Vậy thôi: xuống dòng như thế thật đáng nể, vừa như tiếng thở dài, lại thêm cái nhún vai, bất cần, dứt khoát.

Tôi không là nhà phê bình, và chẳng có khiếu ê a tán thơ. Nhưng không  nói dăm câu e bạn đọc chê thế mà dám đi giới thiệu thơ, nên chỉ  xin lưu ý : về tiết điệu, thơ Nguyễn Lương Vỵ thuộc loại cổ điển. Cái đặc thù, là cách ghép những hình tượng nhiều khi khá bất ngờ, tạo ra  một phong cách  thơ  của riêng ông, khó lẫn lộn với những dòng thơ khác. Tuy thế, khi hóm ông có vẻ giỡn chơi Bùi Giáng, khi quặn mình đau  thì có chút chút Hàn Mạc Tử, và lúc ông trầm ngâm, tôi có cảm tưởng như là thơ Trần Dần nối dài, dữ dội, không  khoan nhượng.

Tôi vốn tâm phục cụ Ức Trai, và thật hân hạnh gìới thiệu  thơ 6 chữ của Nguyển Lương Vỵ viết tưởng nhớ cụ. Thơ 6 chữ, pha vào đôi câu lục bát,  là

hình thức cụ hay dùng. Thật tiếc là những nhà thơ của chúng ta  chẳng mấy quan tâm.

Bây giờ, xin mời đọc :


 

 

 

NGUYỄN LƯƠNG VỴ

 

TÁM CÂU LỤC HUYỀN ÂM

Tri ân tiền bối Nguyễn Trãi

 

 

DỐC TRĂNG CỐ XỨ

(Thay Lời Tựa)

 

I.

 

Nhớ quá dốc trăng cố xứ

Hít một hơi ứ thiên cao

Ruột gan tim phổi ngất ngứ

Hồn phách trí não phập phào

Đất trào huyết hoa bức tử

Gió vút máu đá vụt trào

Nếp trán vết hằn tâm sự

Dốc trăng khuyết đĩa dầu hao…

 

II.

 

Chào cố xứ trào nước mắt

Muốn gọi người mà khôn đành

Phong dao mài thanh kiếm sắc

Thủy cầm rưới nấm mồ thanh

Trăng rợp mái đình vằng vặc

Dốc nghiêng vai gió vạnh vành

Dợm chân bước nghe máu sặc

Oan khiên vãng sự cầm canh…

 

III.

 

A ha ta về cố xứ

Dốc trăng gót lữ động tình

Tình buốt buốt vuốt ngực hú

Niềm lâng lâng đắp nắng thinh

Trăng lặn dốc mù địa phủ

Trời nhô bóng rợp thiên tinh

Một tràng kinh về đông đủ

Chiêm bao gió lú rùng mình…

12. 2010

 

GỬI QUỐC ÂM

 

I.

 

Trọn đời thương nhớ Quốc Âm

Thơ sáng trưng theo tháng năm

Bình Ngô Đại Cáo sấm dậy

Quân Trung Từ Mệnh lôi trầm (1)

Sống trong veo như nhật nguyệt
Chết tịch mịch tợ cổ câm

Bè mây trắng vang câu hát

Nước non trở giấc thạch cầm…

 

II.

 

Thạch cầm nở đóa huyết thi
Sá chi tử biệt sinh ly
Ải Nam Quan lời thề khắc
Đất Lỗi Giang tâm nguyện ghi (2)

Lam Sơn ẩn hình hổ phục

Lũng Nhai hiện bóng rồng phi

Trả thù cha đền nợ nước

Nhẹ thênh thơ ngát vân vi…

 

III.

 

Quốc Âm thanh khí thường hằng

Tình thư một bức nói năng (3)

Nhấn ngón tay rân phím nhạc

Nhịp bàn chân réo gót đằng

Gõ chén hát trăng mười sáu

Nâng ly ca núi ngàn đăng

Vũ trụ cùng người đối ẩm

Thềm khuya ứng mộng cho chăng?!…

 

IV.

 

Đóa huyết thi bầm huyết sử

Đời nay vẫn rền linh ngữ

Chắc chi thiên hạ chí tình (4)

Hà tất một mình nhiễu sự

Thuyền nan nén nghẹn mái chèo

Bóng phượng tung ngần viễn xứ

Người đi đâu người về đâu
Quốc Âm trầm sâu mỗi chữ…

 

V.

 

Trọn đời thương nhớ Ức Trai

Sáu trăm ba mươi năm ngoài

Chí Linh nhương sao nhấp nháy

Côn Sơn vung bút mãi mai

Oan nghiệt tuyệt không nhếch mép

Công danh đếch có rùn vai

Loáng gươm đưa đầu lìa cổ

Chẳng cần chi ai khóc ai…

 

VI.

 

Khóc ai nào biết khóc ai

Lệ Chi Viên oán ngút dài

Rưng rức ngần sương cay mắt

Sững sờ trận gió ù tai

Sử lịch chìm sâu ngất ngất

Thời gian trôi giạt phai phai

Ém trong ngực một tiếng thét

Khóc ai nào biết khóc ai?!…

 

VII.

 

Lá thu mưa đóa huyết thi

Đầu cây ngọn cỏ thầm thì

Chim bay về rợp võng nắng

Gió cuốn đi chớp quầng mi

Nghiêng tai nghe âm trổ nụ

Ghé mắt thấy chữ phương phi

Xoa tay nhặt năm tháng cũ

Mầm tươi vừa nhú diệu kỳ…

 

08.2010

(Tưởng niệm 630 năm [1380 – 2010,] tiền bối Nguyễn Trãi.)

(1) Quân Trung Từ Mệnh Tập: Là tập sách gồm những văn thư do Nguyễn Trãi thay mặt Lê Lợi (Lê Thái Tổ) gửi cho các tướng tá  nhà Minh trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, từ năm 1423 đến năm1427. Bản khắc in năm 1868 chỉ ghi lại được 46 văn kiện. Năm 1970, nhà nghiên cứu Trần Văn Giáp phát hiện thêm 23 văn kiện nữa do Nguyễn Trãi viết gửi cho tướng nhà Minh.(Nguồn: Vikipedia.)

(2) Lỗi Giang: Nơi Nguyễn Trãi yết kiến Lê Lợi, tham gia cuộc kháng chiến chống quân Minh.

(3) Tình thư một bức còn phong kín

      Gió đưa hơi, gượng mở xem…

      (Quốc Âm Thi Tập – Nguyễn Trãi.)

(4) Chắc chi thiên hạ đời nay

     Mà đem non nước làm rầy chiêm bao…

     (Tự Thán – Nguyễn Trãi.)


GỬI VỈA HÈ SÀI GÒN

 

I.

 

Mần một bài thơ xù xì

Nhờ gió tháng Chín mang đi

Về thăm vỉa hè góc phố

Đến chào quán xá mộ bi

Rùn vai ma khuya sóng sánh

Rụt cổ quỉ đêm rầm rì

Nhậu một mình thấy chín cõi

Bàn trơ khía cạnh lầm lì…

 

II.

 

Mần một bài thơ cũ mèm

Vọng cổ xuống xề đi em

Thiệt là mùi để lấy trớn

Thiệt là hứng cho đã thèm

Hỏi người đi đâu bụi bặm

Nhắn ai ngồi đó lấm lem

Thân có tàn ma có dại

Bờ đêm tóc xõa vai mềm…

 

III.

 

Mần một bài thơ đục ngầu

Như kênh Nhiêu Lộc tìm nhau

Cố nhân hồ như khách lạ

Tri âm ắt hẳn đêm sâu

Viên sỏi cựa mình chẳng nói

Bóng cây gù lưng biếng chào

Chỉ biết đưa tay vuốt mặt

Ngậm ngùi ghi lại đôi câu…

 

IV.

 

Chẳng biết tìm ai cuối phố

Bước lạc bước gió lạc gió

Sài Gòn Chợ Lớn mưa bay

Thủ Đức Bình Dương nắng đổ

Bùi Giáng thương nhớ liên tồn

Joseph trầm tư mộ cỏ (*)

Thất thanh gọi Nguyễn Tôn Nhan

Lục-Bát-Ba-Câu chín đỏ…

 

V.

 

Mần một bài thơ tím bầm

Vần vèo rách rưới từ tâm

Thằng nhóc ngày xưa xơ xác

Lão già đêm nay cù câm

Ôm gái lạ mà tơ tưởng

Nhớ trăng xưa để mớ thầm

Ơi con trăng thơ dại ấy

Mười ba lạ nhỉ mười rằm…

 

VI.

 

Mần một bài thơ nát nhàu

Âm vang nhòe nhoẹt vó câu

Ồ ngàn dâu ồ tượng số

Ối mười phương ối địa cầu

Nhớ nhau phút giờ kiên khổ

Tìm nhau năm tháng thương đau

Trời Sài Gòn trăng châu thổ

Một hôm tan hết sắc màu…

 

VII.

 

Mần một bài thơ dở dang

Gửi trao thượng đế lang thang

Ý chưa thỏa tứ đã nghẹn

Chữ chưa bưa lời đã tan

Nhấp nháy niềm kia huyệt mộ

Gập ghềnh nỗi nọ gió ngàn

Đành buông hai tiếng gọn lỏn

Đù Má! Đứt ruột bầm gan…

 

09.2011

(*) Joseph: Thi sĩ Joseph Huỳnh Văn: “Em hỡi khi tay ngà rỏ máu/Thì lòng ta mộ cỏ xanh rồi…”

 

GỬI MỘT KHI NÀO

 

I.

Mần thơ gửi một khi nào
Đã xong một cuộc tào lao
Thiên tặc gọi thì phải dạ
Địa phủ đón thì phải chào
Chào cái thây về cát bụi
Mừng cái phách hẹn trăng sao
Thiệt tình vẫn còn tiếc lắm
Cái em ngần mộng phỗng phao…

 

II.

Phỗng phao một cuộc rong chơi
Nồng tanh thơm thảo một đời
Búng huyết sưng âm mộ địa
Giọt tinh rộ sắc luân hồi
Một niềm thương không đủ gọi
Bao nỗi nhớ chẳng kịp bồi
Muôn nẻo trùng sinh náo nhiệt
Dè đâu ta chết lâu rồi…

 

III.

Chết lâu rồi giọt nắng phai
Giọt mưa tan đàn nuối dài
Quen lạ hình hài nhớn nhác
Cuồng mê hồn cốt miệt mài
Ma đấy hử ta đấy hử
Ta là ai ma là ai
Chậc lưỡi trọn đời lầm lũi
Cầu bơ cầu bất hỏi hoài…

 

IV.

Hỏi cứ hỏi hú cứ hú
Quỳ xuống nhìn đêm mới lú
Huyền hồ một búp trăng non
Trắng muốt hai bờ ngực nhú
Cỏ ngất âm đang tượng thanh
Em lừng hương vừa hé nụ
Hú cứ hú quỳ cứ quỳ
Rưng rưng nắng khuya thầm nhủ…

 

V.

Mần thơ gửi một khi nào
Hắt hơi thở một cái phào
Xuôi tay vui nhé trời đất
Nhắm mắt sướng chưa thấp cao
Bao nhiêu nợ ợ cho sạch
Bấy nhiêu tình ói cái ào
Chẳng có đếch gì phải hỏi
Chờ nhau cái lạnh thấm vào…

 

VI.

Chờ nhau cái lạnh mênh mông
Phách bay rờm rợp xa trông
Vỗ cái không bồng cái rỗng
Động cái bóng tịnh cái mồng
Trồng một rừng âm thánh thót
Gieo hai núi nhạc bềnh bồng
Thiệt là sang thiệt là bảnh
Ma ta độc ẩm vui không?!…

 

VII.

Vui chẳng vui sầu chẳng sầu
Chỉ thèm ôm hết sắc màu
Đỏ au từ muôn kiếp trước
Hồng tươm tự thuở sơ đầu
Nâng giấc em tràn mộng ảo
Đỡ hồn ta khẳm chiêm bao
Rồi sao nữa rồi sao nữa?
Thì mần thơ tiếp chứ sao!!!…

 

9.2011

 

GỬI VU VƠ

 

I.

 

Mần bài thơ gửi vu vơ

Tặng những ai trong mịt mờ

Lô xô sóng xô ghềnh đá

Vi vu gió thổi bụi bờ

Âm tro bay chờ nhau nhé
Sắc chiều phai nhắn bậu nờ

Lão trời già cứ ấm ớ

Sống hò lơ chết hò lờ…

 

II.

 

Chết hò lờ ơ rỗng không

Mà sao ướt hết mênh mông

Cỏ nội chìm sương tưởng nhớ

Bến ngoài lắng gió ngóng trông

Cúi nhặt bóng ai lá rụng

Ngước ôm dáng bậu mây lồng

Mắt chữ lim dim chìm khuất

Ruột gan vũ trụ quá nồng…

 

III.

 

Mần bài thơ gửi ngẫu nhiên

Ý thơm rướm máu lam điền

Ta gọi người mưa cửa mộ

Người gọi ta nắng cỏ biền

Lanh canh hòn than ríu lửa

Leng keng viên cuội tham thiền

Rờ sau ót hú một tiếng

Ngẫu nhiên hay là tất nhiên?!...

 

IV.

 

Nhiều khi chẳng cần hỏi nữa

Đợi thơ về mần thả cửa

Mửa mật trào máu lắm phen

Sống ngất chết ngây nhiều bữa

Ý có thiêng thì cứ nhen

Chữ có linh thì cứ cựa

Tim ta bắt nhịp môi đèn

Bàn phím gõ ngàn ô lửa…

 

V.

 

Mần bài thơ gửi vu vơ

Tặng những ai trong phút giờ

Vẫy bàn tay chào một bận

Hất mái tóc bẩm đôi bờ

Bờ nào cũng đều lận đận

Bến mô cũng rặt bơ thờ

Lão trời già cứ giả dại

Bày trò sống chết con…cờ!!!...

 

VI.

 

Con cờ cái lờ thiện tai

Cơn điên vũ trụ rống dài

Một hai ba ồ động cỡn

Bốn năm sáu ố mãn khai

Xương núi người ma dấm dớ

Máu sông ngợm quỷ dông dài

Trọn đời ta ngồi đấm ngực

Thiện tai thiện tai thiện tai!!!...

 

VII.

 

Mần bài thơ gửi tất nhiên

Tặng ngẫu nhiên một tiếng kèn

Một âm xanh trên nẻo lạ

Một nét huyền giữa lối quen

Gãi đầu bứt sợi tóc bạc

Xoa tay vén liếp đêm đen

Bóng người ngã trên ghềnh đá

Tất nhiên hay là ngẫu nhiên?!...

 

09.2011

 

GỬI BÓNG HÌNH

 

I.

 

Mần thơ trao gửi bóng hình

Chữ hồn nhiên khóc lung linh

Bóng ơi sao mà cũ rích

Hình ơi sao mà mới tinh

Nụ tầm xuân trời chuyển dạ

Giọt đàn thu đất trở mình

Tìm nhau đỏ con mắt đá

Âm khuya gót máu lặng thinh…

 

II.

 

Âm khuya gót máu chiêu hoa

Piano Sonata!!!

Giọt mưa trăng bông khế rụng

Trận gió trời bóng nhện sa

Lẩm bẩm đôi câu vừa tỏ

Lầm bầm vài ý mới ra

Chờ nhau vắng chìm tâm sự

Âm rền buốt hết xương da…

 

III.

 

Âm rền tóc dựng vĩ thanh

Beethoven Beethoven!!!

Giao hưởng thương đời mệnh bạc

Hòa âm xót kẻ đầu xanh

Trời chẳng nói đất chẳng nói

Sống cũng tanh chết cũng tanh

Thế kỷ buồn như chó ngáp

Liếm đuôi sủa gió bạo hành…

 

IV.

 

Gió bạo hành mây bạo liệt

Bờm rung thống thiết giang đầu

Bóng đi đâu dâu xanh ngất

Hình về đâu mây trắng phau

Chữ ứa cơn sầu cỏ mật

Thơ ghìm tiếng nấc vực sâu

Lời muốn tỏ mà quên mất

Tìm nhau chớp mắt đêm thâu…

 

V.

 

Mần thơ trao gửi bóng hình

Hài nhi khóc ré vô minh

Thưa tử cung bẩm cửa mộ

Xá sanh môn lạy cửa mình

Hươ hai tay tìm sau trước

Đạp hai chân khều tử sinh

Sớm mai chim chuyền bụi ớt

Bờ tre khóm trúc rung rinh…

 

VI.

 

Rung rinh lá động gió đưa

Vạt áo đường thu gọi mưa

Bóng ơi đừng tan chi vội

Hình ơi khoan biến nghe chưa

Câu hát nao lòng bến cũ

Nụ cười tươi máu hiên xưa

Chiều hôm chim kêu rát cổ

Rừng âm thổ huyết dâng mùa…

 

VII.

 

Rừng âm trổ lộc tuyết băng

Chữ hồn nhiên cất tiếng rằng:

Bóng huyễn mưa trăng khắc vợi

Hình hư gió ruộng cầm bằng

Thơ chắc gì đâu nghe thấu

Đời mong chi nữa nói năng

Bóng quên hình hình quên bóng

Cống xang hò xự xê xang…

 

10.2011

 

GỬI QUOẢNG NÔM

 

I.

 

Chưa mưa đất đõa thấm rồi

Chưa nhấp rượu đõa mềm môi

Câu hoát hay kinh thiệt hỉ

Bừa thơ lọa gướm rứa thôi

Đứa nồ ưng núa thì núa

Thèng mô thích cười thì cười

Núa cho hung cười cho sướng

Tồ lô thiên tẹc đõa đời…

 

II.

 

Đõa đời rồi cũng ngay đơ

Trời néng cực đất mệt khờ

Gứa méc tịt móa đỏ lưỡng

Trưa dị òm tưa đỏ lơ

Lồm cứa chi mô rứa hỉ

Hủa tựa sô reng ri nờ

Bóa lốp bá xồm giỡn miết

Boa nhe núa lứa ỡm ờ…

 

III.

 

Núa lứa ỡm ờ cho vui

Chồn lui chồn lủi chồn lùi

Đoàn bòa thì thích nấu nướng

Đoàn ông thì thích đông d[v]ui

Ngẫm nghĩ bốn lần bấn loạn

Cù cưa sáu mẹc hên xui

Bòn coa xứa lụm quên trớt

Côm lưa khổ tận vỗ đùi…

 

IV.

 

Vỗ đùi lồm một cứa trót

Rượu gộ ưa uống nấy rót

Mưa thúi đất chẻng roa reng

Lụt beng đồng thôi trớt huớt

Rứa đó biết lồm sô chừ

Ri nề chẻng núa chi được

Lủm một miếng lồm một ly

Ực một hơi nghe cứa ót…

 

V.

 

Đất Quoảng Nôm cổm thương nhiều

Chưa mưa đõa thấm… núa liều

Thương cho lắm rồi phọt phẹt

Nhớ cho hung rồi đẹt điều

Sân tâm hèn chi lứa dủm

Si tình nên phửa lộn lèo

Toang thương gió vùi mưa dập

Chiều chiều lựa nhớ chiều chiều...

 

VI.

 

Chiều mô rứa đó quê nhòa

Niên thiếu bây chừ trôi xoa

Cuống rốn còn rung đất mẹ

Mứa đầu vẫn rợp trời choa

Gụa mữa trên đường thiên lý

Kêu hùa giữa chốn người moa

Rứa đó hơn nửa thế kỷ

Sô còn khờ khộ rứa toa!!!...

 

VII.

 

Sô còn quay quét chiêm bô

Câu thơ ứa máu cứ trồ

Bông bụt đỏ lè trước ngõ

Hoa em tréng hếu ngùa ô

Rứa đó ngó hùa rứa đó

Lồm sô dòm miết lồm sô

Bây chừ vẫn còn ú ớ

Tiếc hùa một giấc chiêm bô...

 

10.2011

 

Chú thích: Bài thơ nầy, lấy hứng từ hai câu ca dao:“Đất Quảng Nam chưa mưa đã thấm/Rượu hồng đào chưa nhấm đã say…” Toàn bộ bài thơ được viết theo âm, giọng Quảng Nam (âm, giọng nầy, người viết đã ngấm sâu trong xương tủy, dù đã xa quê từ buổi thiếu thời,) để riêng kính tặng người xứ Quảng Nam, xem như ân tình sâu nặng của tác giả đối với nơi chôn nhau cắt rốn của mình.

Ở đây xin phép không chú giải âm, giọng Quảng Nam để đối chiếu với âm, giọng Việt Nam chuẩn. Bạn đọc nào không phải là người xứ Quảng Nam thử tự “dịch” bài thơ nầy sang âm, giọng Việt Nam chuẩn thử xem! Nếu “dịch” không được thì nhờ người xứ Quảng Nam “dịch” giúp, sẽ có thêm hiểu biết, kinh nghiệm về âm, giọng của người Quảng Nam.

Ngoài ra, người xứ Quảng Nam còn có biệt tài nói lái thuộc hạng đệ nhất cao thủ Việt Nam. Nói lái là cách đảo chữ, đảo ngữ, đảo âm thành một nghĩa khác, thông thường là lắc léo những chữ, câu, tục mà thanh, có tính cách bông lơn, vui đùa mà thâm thúy, tạo ra những tràng cười sảng khoái, quên đi những cơ cực, nhọc nhằn trong cuộc sống đã vốn dĩ. Đảo chữ, đảo ngữ, đảo âm có khi phải “dịch” đến ba bốn lần mới ra nghĩa nói lái. Trong bài thơ nầy có 2 từ kép: Đông d[v]ui, nấu nướng, bạn thử “dịch” bốn lần bấn loạn thử xem?! Tất nhiên là “Vui thôi mà!” Như ý kiến của đại huynh Bùi Giáng.

 

GỬI MỘT NGƯỜI-THƠ

 

Tặng Nguyễn Thị Khánh Minh

 

I.

 

Ngồi thưa thốt với người-thơ

Trời Bolsa đẹp ngẩn ngơ

Nhớ Sài Gòn không thể tả

Thương miền Trung quá sững sờ

Nha Trang Bùa Hương mấy độ (*)

Chiên Đàn tháp cổ bao giờ (**)

Niềm u uẩn không thành tiếng

Trời quen đất lạ bơ vơ…

 

II.

 

Trời quen đất lạ lao đao

Thơ tìm thơ hạt nắng trào

Hình Nhân Của Bóng rưng sóng (*)

Âm Ba La Mật nhương sao

Vầng trán vết hằn năm tháng

Nụ cười ngấn lệ chiêm bao

Chuyện vãn nao lòng khách lữ

Cánh diều thơ dại bay cao…

 

III.

 

Cánh diều thơ dại im ru

Hồn veo theo gió xa mù

Đêm mơ hái chùm nắng lạ

Ngày đi nhặt tiếng chim gù

Phố điêu khắc vĩ cầm tím

Biển thức nghe dương cầm thu

Líu ríu không gian chìm xuống

Ngoài kia dương liễu vi vu…

 

IV.

 

Ngoài kia mùa đi mấy thuở

Tang thương núi nhớ mây ngàn

Chép bài thơ trong trí nhớ

Gửi niềm đau theo trăng tan

Một nét lưng mềm tím phố

Một trời nhạc lắng xanh đàn

Hình vẫn còn neo bóng nhỏ

Còn đây hương gió ngọc lan…

 

V.

 

Còn đây quán vắng sơ thu

Nhắc tri âm đã khuất mù

Ngu Cốc tiên sinh ứng mộng (***)

Khờ Em nữ sĩ trầm tư

Mười bài thơ ba nhịp ngắt

Bốn con mắt một tiếng ừ

Ừ nhỉ đời như chớp tắt

Hẹn nhau về với Không Hư…

 

VI.

 

Hẹn nhau về cũng như đi

Về sớm cũng chưa vội gì

Trời đất gọi ai nấy dạ

Nhân gian sinh vốn đã ly

Sống gửi đùa đùa giỡn giỡn

Thác về cợt cợt nghi nghi

Khuấy cà phê rồi nhấp giọng

Tình tang thưa thốt cười khì…

 

VII.

 

Thưa cùng nữ sĩ Khờ Em

Chiều phai trong sợi tóc mềm

Thơ vốn không bờ không bến

Đời đâu có tuổi có tên

Lắng cùng ta Thượng Thanh Khí

Nghe cùng ta âm lục huyền

Vậy đó Chữ là tri ngộ

Xanh ngời giọt máu đỗ quyên…

 

8.2011

(*) Bùa Hương, Hình Nhân Của Bóng: Hai thi tập mới nhất của nhà thơ Nguyễn Thị Khánh Minh.

(**) Chiên Đàn: Địa danh ở Tam Kỳ, Quảng Nam, quê hương của tác giả.

(***) Ngu Cốc: Biệt hiệu của nhà thơ Nguyễn Tôn Nhan.

 

CA NGUYỆN TẦM XUÂN

(Thay Lời Bạt)

 

I.

Nhựa Xuân lèn trong gân lá

Nheo mắt nghe gió đưa hương

Ngày cũng vừa đương nẩy nụ

Đêm cũng sắp gá ngần sương

Lóng lánh giấc mơ trần thổ

Long lanh cơn mộng thiên nương

Nường én chao nghiêng góc phố

Đời nghiêng theo xanh một phương…

 

II.

 

Một phương nường hót ríu rang

Đàn reo réo rắt tình tang

Niềm nỗi đất trời ướm nhẹ

Tâm tư vũ trụ chìm vang

Bay vút vút niềm dâu bể

Rụng vân vân lời khói nhang

Bóng núi lưng tròng ứa lệ

Ngực rêm gót-ngựa-bông-vàng…

 

III.

 

Bông vàng ca nguyện khôn kham

Đàn reo rướm nhạc tím lam

Mận chín vườn xưa đói mắt

Ngói phai hồn nay khát cầm

Cầm dương lạnh trong vườn lạnh

Chiều hôm câm trên bến câm

Hồn trải nhẹ theo miếng gió

Nghiêng vai nghe lá la thầm…

 

12.2010