Nam Dao

Nam Dao

 

Image hosting by Photobucket

Thanh Tâm Tuyền
qua nét vẽ Duy Thanh
trong Tôi không c̣n cô độc

 

tưởng nhớ Thanh Tâm Tuyền

 

 

Thanh Tâm Tuyền, nhà thơ nổi tiếng của phong trào Thơ Tự Do Việt Nam, đã qua đời tại Hoa Kỳ, sáng Thứ Ba, ngày 22 tháng Ba, 2006, hưởng thọ 70 tuổi.
Di cư vào Nam năm 1955, ông và một số các bạn văn lao vào làm văn nghệ mới, bắt đầu với báo Người Việt (1955).
Năm 1956, ông chủ trương tạp chí Sáng Tạo cùng với Mai Thảo, Nguyễn Sỹ Tế, Tô Thùy Yên, Doăn Quốc Sỹ, Quách Thoại, Trần Thanh Hiệp, và các họa sĩ Thái Tuấn, Ngọc Dũng, Duy Thanh. Năm 1960, tạp chí Sáng Tạo bộ mới ra đời, cũng do Thanh Tâm Tuyền thực hiện cùng các bạn hữu như Mai Thảo, Nguyễn Sỹ Tế, Doăn Quốc Sỹ, Trần Thanh Hiệp, và Tô Thuỳ Yên.
Năm 1962, Thanh Tâm Tuyền nhập ngũ, học ở Trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức, rồi về dạy Đại Học Chính Trị Đà Lạt và phụ trách Nguyệt San Quốc Pḥng. Sau năm 1975, ông bị bắt giam và ở trại cải tạo nhiều năm, trước khi sang cư   ngụ tại Hoa Kỳ theo diện HO, năm 1990.

 

Tác phẩm của Thanh Tâm Tuyền:

Tôi Không C̣n Cô Độc (thơ,1956)
Bếp Lửa (truyện, 1957)
Liên, Đêm, Mặt Trời T́m Thấy (thơ,1964)
Khuôn Mặt (truyện ,1964)
Dọc Đường ( truyện, 1966)
Ba Chị Em (kịch, 1967)
Cát Lầy (truyện,1967)
Mù Khơi (truyện, 1970)
Tiếng Động (truyện,1970)
Tạp Ghi (1970)
Ung Thư (tiểu thuyết, in trọn từng ḱ trên tập san Văn, Sài G̣n, chưa xuất bản)
Thơ Ở Đâu Xa (thơ, Hoa Kỳ, 1990)

____________________________________________________________

Bếp Lửa,
Tựa Lần In Thứ Hai (1965)

Cuốn sách mỏng manh, non nớt và chưa thành h́nh này của một người mới lớn lên. Hắn lớn lên trong một thành phố đă mất, thành phố bị vây hăm như một ḥn cù lao nổi chờ ngày tan ră không để lại dấu vết. Hắn đọc Marx t́m thấy giấc mộng "biến cải thế giới", đọc Rimbaud t́m thấy giấc mộng "thay đổi cuộc đời", đọc Dostoievski t́m thấy thái độ "tất cả hay không có ǵ hết", đọc Gide t́m thấy "đời sống thành khẩn trung thực", đọc Malraux t́m thấy hào quang của trí tuệ dối đầu với Định Mệnh, đọc Sartre t́m thấy "cuộc hiện sinh tự do và chọn lựa". Hắn lớn lên cùng bè bạn, vượt qua mau tuổi trẻ để suy nghĩ và mơ ước hành động. Mỗi đứa một lối lăn ḿnh theo mối cám dỗ lớn lao của hư vô (1). Hắn ĺa bỏ quê hương, chia tay với bè bạn, dấn ḿnh vào lịch sử, đuổi theo giấc phiêu lưu của trí tuệ: sự thật được tạo nên từ niềm hư vô của tuổi trẻ bị tước đoạt.

Bây giờ hắn ba mươi tuổi, hắn vẫn quay tṛn như một nỗi tự do trống rỗng, không làm được ǵ hơn, ngoài một lựa chọn – khó khăn và buồn tủi - : trở thành một nhà văn. Lúc hắn viết cuốn sách này hắn chưa phải là một nhà văn, không muốn là một nhà văn. Hắn chưa biết ḿnh muốn ǵ v́ hắn muốn tất cả. Hắn viết với ư nghĩ trong khi ḿnh viết, người khác chết. Ư nghĩ làm tê liệt hứng khởi tạo tác. Nên sau cuốn sách được in t́nh cờ, không dự tính, hắn nằm im trong sự bất lực hổ thẹn, hắn phá phách tiêu hủy không thể hoàn thành nổi những dự thảo, phóng tưởng kế tiếp. Mỗi ngày mỗi nghiền ngẫm trong bất giác của các t́nh thế kinh nghiệm, hắn nhận thức hắn chỉ là một nhà văn, không thế lực và hèn mọn như mỗi người – một nhà văn bị d́m ngập trong thời đại và xă hội của ḿnh như giới hạn tự nhiên của cơi sống và cơi chết. Hắn dứt bỏ được những mê hoặc, ảo ảnh – về vai tṛ của nhà văn – của thứ tiếng nói toàn năng vang động và làm biến dạng được sự vật một cách cụ thể. Tiếng nói của văn chương chỉ là những lời thầm th́ giữa hỗn độn của lịch sử, lời cô đơn không sức mạnh bị lấn áp ở mọi phía.

Sự kiêu hănh của tuổi nhỏ nhường chỗ cho sự b́nh tĩnh ư thức. Hắn bắt đầu cầm bút thực sự, làm việc giữa những đổ vỡ xáo trộn thách thức. Đối với hắn, cuộc chọn lựa gay go nhất đă xong, hắn biết hắn chỉ c̣n một tiếng nói để t́m kiếm bè bạn và quê hương.
Người được đề tặng sách này đă chết.

Hắn, tên Vũ Đạo Ánh, chết vào một buổi sáng chủ nhật đầu tháng chín năm 1964, tại một khu rừng tỉnh B́nh Dương, một viên đạn xuyên ngang ngực năm mới ngoài ba mươi.

Vào buổi chiều cuối tháng tám, hắn c̣n đứng trước một căn nhà trong hẻm ngoại ô, nh́n qua cửa sổ, đèn trong nhà thắp sáng nhưng mọi người đi vắng, cất tiếng gọi. Như những ngày mùa thu, mùa đông nơi thành phố xa khuất cũng hơi ngửa đầu lên cao liếc mầu trời xẫm mau, hắn gọi đứa bạn của thời niên thiếu nghèo khốn, gọi những mộng phiêu lưu đă bị nghiền nát cùng tuổi trẻ như một Thiên Đường cửa đóng. Hắn lủi thủi trở về như bị bỏ rơi, chạy qua thành phố Saigon buổi tối c̣n ngơ ngác những âm vang của mấy ngày hỗn loạn. Có lẽ hắn nhớ tới thành phố của tuổi trẻ, như nhớ tới đứa bạn, hắn đă chạy cuồng trong đó trên chiếc xe đạp tồi tàn giữa những ngày tháng rách bươm, mơ ước cái cơ hội kết tập được ngày tháng tan ră thành một đời ư nghĩa. Có lẽ hắn muốn gặp đứa bạn để hỏi: tại sao mày không viết được ǵ thêm nữa ngoài cuốn sách đề tặng tao?; cuốn sách hắn nhận được vào một ngày cuối năm nào khi c̣n đóng đồn trên sườn núi ngoài Trung nhớ quê hương đă ĺa bỏ cùng mẹ và gia đ́nh ở lại, cuốn sách vợ hắn mang liệm theo xác như một kỷ niệm hắn muốn mang đi. Hắn không gặp đứa bạn và tự hỏi: Nó ra sao?, đă lâu không gặp, như ngày nào trong thành phố hoài nghi và khắc khoải, hắn thường t́m bạn và hỏi: Thế nào, chúng ḿnh sẽ đi về đâu?

Hắn gục chết bên một gốc cây, mau lẹ, không đau đớn. Hắn nằm đó, đầu ngoẹo sang bên, gối lên cỏ như một người ngủ mệt sau đoạn đường hiểm trở của Định Mệnh – Định Mệnh của một thế hệ, những người c̣n sống là những kẻ sống sót. Hắn đă đi từ tuổi trẻ bị tước đoạt, tới nằm đó trong khu rừng giữa cuộc chiến phơi ḿnh làm một sự thật thô sơ: ở đây, trong xứ sở khốn nạn này, cuộc chiến phải chấp nhận không phải là lối phiêu lưu trốn chạy ngông cuồng. Cái chết của hắn không phải là một huyền thoại Rimbaud, một huyền thoại Lawrence, tên bạn hắn hiểu được như vậy.

Chúng muốn ǵ? Người chết cho kẻ khác sống. Chúng muốn ǵ?

Những nhà phê b́nh ở Hànội đă gọi các nhân vật trong cuốn sách này là bọn tôi mọi nô lệ. Họ hỏi: trong khi họ xây dựng xă hội chủ nghĩa, bọn này đi đâu? Những người ở Hànội không khi nào tự đặt câu hỏi với ḿnh, những câu họ thường đặt cho kẻ địch. Bọn chúng đă đi trong thống khổ của lịch sử tới cái chết, cái chết như sự từ chối quyết liệt. Tại sao? Đáng lẽ họ phải tự hỏi: tại sao? Cái chết lựa chọn không phi lư, nó sẽ làm nảy sinh sự thật, sự thật của những người chết truyền lưu cho kẻ sống sót.
Mỗi nhà văn chính là một kẻ sống sót.

Sàig̣n, 1965
THANH TÂM TUYỀN


Chú thích của tác giả:
(1)... c’est que l’idéal, jusqu’à présent, a été la véritable force de dénigrement appliquée au monde et à l’homme... la grande tentation du néant. Nietzsche (La volonté de puissance).

 

 

 

 

 

Thơ Thanh Tâm Tuyền

 

Phục Sinh

tôi buồn khóc như buồn nôn
ngoài phố
nắng thủy tinh
tôi gọi tên tôi cho đỡ nhớ
thanh tâm tuyền
buổi chiều sao vỡ vào chuông giáo đường
tôi xin một chỗ quỳ thầm kín
cho đ
ứa nhỏ linh hồn
sợ chó dữ
con chó đói không màu

tôi buồn chết như buồn ngủ
dù tôi đang đứng bên bờ sông
nước đen sâu thao thức
tôi hét tên tôi cho nguôi giận
thanh tâm tuyền
đêm ngă xuống khoảng th́ thầm tội lỗi
em bé quàng khăn đỏ ơi
này một con chó sói
thứ chó sói lang thang

tôi thèm giết tôi
loài sát nhân muôn đời
tôi gào tên tôi thảm thiết
thanh tâm tuyền
bóp cổ tôi chết gục
để tôi được phục sinh
từng chuỗi cuộc đời tiếp nối
nhân loại không tha thứ tội giết người
bọn đao phủ quỳ gối
giờ phục sinh

tiếng kêu là kinh cầu
những thế kỷ chờ đợi
tôi thèm sống như thèm chết
giữa hơi thở giao thoa
ngực cháy lửa
tôi gọi khẽ
em
hăy mở cửa trái tim
tâm hồn anh vừa sống lại thành trẻ thơ
trong sạch như một lần sự thật.

 

Cỏ

Em bao giờ là thiên nhiên
anh cúi đầu xuống ngực
gịng mưa sắc lá
đau môi

Cỏ của hoa và hoa của cỏ
những ngón tay những ngón chân những nụ cười
nắng tháng ba mưa tháng bảy sương tháng chín
cho thơm đường hôm nay đến sớm mai
hôn từ ngày dài tội lỗi
chưa quên

Gai trắng con ngươi mở mù ḷa
hơi đất nằm trong tóc
thèm muốn mỗi hàm răng
từng móng vuốt
đầy đồng xanh hoa nhiều màu một người
sống sót

cỏ ơi cỏ kết thành lời
dàn nhạc huy hoàng
cô đơn

Giấc vụng về
tia nhọn sáng
đừng rơi hoàng hôn cánh rừng dầy
những ngực thương nhau
không áo
v́ cỏ dại rối bời

Chúng ta ôm thời gian trong suốt
chẳng phân vân
như mặt trời chuyện tṛ cùng lũ cỏ
như lá cây thầm ngă phủ vai trần
như tiếng tim thốt cười ngoài dĩ văng

 

Lệ Đá Xanh

tôi biết những người khóc lẻ loi
không nguôi một phút
những người khóc lệ không rơi ngoài tim ḿnh
em biết không
lệ là những viên đá xanh
tim rũ rượi

đôi khi anh muốn tin
ngoài trời chỉ c̣n trời sao là đáng kể
mà bên những v́ sao lấp lánh đôi mắt em đến ngày cuối

đôi khi anh muốn tin
ngoài đời thơm phức những trái cây của thượng đế
mà bên những trái cây ngọt ngào đôi môi em nguồn sữa mật khởi đầu

đôi khi anh muốn tin
ngoài đời đầy cỏ hoa tinh khiết
mà bên cỏ hoa quyến rũ cánh tay em ṿng ân ái

đôi khi anh muốn tin
ôi những người khóc lẻ loi một ḿnh
đau đớn lệ là những viên đá xanh
tim rũ rượi

 

Bài Ngợi Ca T́nh Yêu

1.

Tôi chờ đợi
lớn lên cùng giông băo
hôm nay tuổi nhỏ khóc trên vai
t́m cánh tay nước biển
con ngựa buồn
lửa trốn con ngươi

Đất nước có một lần
tôi gh́ đau đớn trong thân thể
những gịng sông những đường cầy núi nhọn
những biệt ly rạn nứt ḷng đường
hút chặt mười ngón tay ngón chân da thịt
như người yêu từ chối vùng vằng

Tôi chờ đợi
cười lên sặc sỡ
la qua mái ngói
thành phố ruộng đồng bấu lấy tim tôi thành nhịp thở
ngơ cụt đường làng cỏ hoa cống rănh
cây già đá sỏi bùn nước mặn nồng
chảy máu
tiếng kêu

2.

Tôi chờ đợi
phổi đầy lửa cháy
môi đầy thẹn thùng
vục xuống nhục nhằn tổ quốc
nh́n gót giầy miệng uống tro than
nghe tiếng ca của một người không quen
của cuộc đời t́nh nhân

3.

Trang sách khởi đầu viết
mắt người cần ánh sáng
môi người cần mặt trăng
bàn tay đ̣i mặt trời
và ngực em tự do
của anh của anh tất cả

Em gối đầu sương xuống
chuyện tṛ bằng bóng h́nh

Tôi đẹp như h́nh tôi
như cuộc đời
như mọi người
như chút thôi
anh yêu lấy em

Em là lá biếc là mây cao là tiếng hát
sớm mai khuya thức nhiều nhớ thương
em là cánh hoa là sương khói
đêm màu hồng

Ṿng tay dĩ văng và bát ngát
chỗ yên nghỉ cuối cùng
dưới mắt sao dưới bàn chân những đứa con

4.

Tôi chờ đợi
một người  - không - nhiều người
ở thành phố thiếu thốn
ở làng mạc đọa đầy
tôi là tiếng nói là tiếng khóc
những người bỏ đi hẹn trở về
những người mím hơi thừa chịu đựng
tôi chờ đợi
tôi là tiếng thơ là tiếng cười
mai Việt Nam hỡi mai Việt Nam

 

Liên Những Bài Thơ T́nh Thời Chia Cách

1.

Sự em có mặt cần thiết như những sớm mai
(nếu đời người không có những sớm mai)
anh trở dậy
đọc thơ Nguyễn Du
những câu lục bát buồn rưng rưng
cuối đường của một ngày
chợt anh muốn viết tặng em
không thể được
em làm con tin ở một thế giới mà ḷng sầu héo là trọng tội
anh cố gắng viết những lời thơ thật tự nhiên
như câu chuyện buổi c̣n gặp gỡ
như khoảng trời đơn sơ sau cửa sổ
anh gọi thầm một ḿnh
trong giấc mơ phủ làn tóc biếc
anh biết anh gọi thầm một ḿnh
LIÊN

2.

Anh nhớ em cùng một lúc với thành phố
với những con đường anh đi qua một lần
để đến nhà em anh băng ngang một vườn hoa vắng
(lần trở về anh ngồi xuống ghế dài
nếu là buổi chiều quạnh hiu mây lá mùa thu)
một phố b́nh dân có chợ và những quán ăn
giản dị như trang nhật kư của anh
ngày bắt đầu yêu em .

 

Nhịp ba

                                                                  tặng Doăn Quốc Sỹ

Ngực anh thủng lỗ đạn tṛn
lưỡi lê thấu phổi
tim c̣n nhảy đập
nhịp ba nhịp ba nhịp ba
t́nh yêu tự do măi măi
anh về ngă xuống vườn nhà
cây liền kết trái
hoa rụng tơi tơi ủ sắc
anh chạy nhịp hai qua cách trở
mắt bừng
thống nhất tự do
ngoài xa thành phố
bánh xe lăn nhịp ba
áo màu xanh hớn hở
nhát búa gơ
ḷng máy quay
cửa nhà thi nhau lớn
nhịp ba nhịp ba nhịp ba
t́nh yêu tự do măi măi
sông bồi phù sa
ruộng lúa trổ hoa

núi cao uốn cây rừng
nhịp ba nhịp ba nhịp ba
t́nh yêu tự do măi măi
đất nước ào ào vỗ nhịp
triều biển chập chùng
Hà nội Huế Sài g̣n
ôm nhau nức nở
có người cầm súng bắn vào đầu
đạn nổ nhịp ba
không chết
anh ngồi nhổm dậy
khoẻ mạnh lạ thường
bước ai thánh thót
nhịp ba
t́nh yêu
tự do
măi măi
t́nh yêu tự do măi măi
t́nh yêu tự do
măi măi anh ơi.

 

Phiên khúc 20

tặng những người đă ngă cho Phiên Khúc 20

Ta vừa hai mươi tuổi
nhân loại cũng hai mươi
ôi nhân loại hai mươi
thóc gặt dư ăn
bột xay thừa nặn bánh

ta kêu lên hờn căm
khi quá thể chúng cắt t́nh ruột thịt
hỡi mẹ hiền nh́n mẹ rưng rưng
yêu chẳng được yêu khóc không dám khóc

hôm nay ta xông ra ngoài phố
ngày 20
nắm tay tṛn cáu giận
má phừng lửa yêu thương
môi bỏng niềm tủi cực
đêm qua ai thét giữa đêm dài
tỉnh dậy ôi nao nức
ấy là tiếng hét trong hồn ta
ngă xuống ngă xuống
những kẻ dâng linh hồn cho giặc
những kẻ tối tăm quên cốt nhục
những kẻ bán đứt quuê hương
ngă xuống ngă xuống
chân dậm chật đường
kéo về khắp ngả
phá cho tan hoang
nổ tung căm phẫn
chưa biết chị là ai
đau như đạn xuyên giữa ngực ḿnh
chị trúng thương rồi chị trúng thương rồi
đây chúng tôi
ḥ reo mà ghê khiếp
địch ríu không chạy kịp
ta thoi vào mặt ngă sóng xoài
ngă xuống ngă xuống
những người làm bẩn tuổi hai mươi

ta đi hôm nay ngày hai mươi
rồi hẹn rằng chưa đủ
mắt nh́n suốt ngày mai
chân đạp tung áp bức
thóc gặt về người phải dư ăn
bột mịn màng thừa bánh để dành
hỡi người khốn khổ
ở đây Đông Âu hay Bắc Phi
hăy đổ ra ngoài phố
đến lượt phiên khúc hai mươi
không phải câm mà không biết nói
máu đỏ tươi cho ánh ngời cười

nóc nhà thương và mái học đường
tường trắng sáng là màu tự do
khung cửa lớn và gương loang loáng
chúng tôi giành lại đất nước thân yêu
các anh giành lại đất nước thân yêu
những lời ấp ủ ngàn xưa
ta hát lên to lớn
con cháu ngày sau c̣n nghe rơ
mà nhớ
đất ta là của ta
đừng ai ḥng cắt xẻ
chúng ta thương yêu nhau
cùng là con một mẹ
chiếm lại trọn đất đai
xoá sạch oán thù
nhường nhau là hết nói
ôi hai mươi
nhân loại trẻ như hoa búp
con về dựng lại cửa nhà
trẻ con đi học trên đường rộng
chữ đầu tiên em học là ǵ
thưa: yêu

các em ơi anh đương tuổi hai mươi
em rồi cũng thở tuổi hai mươi
tuổi hai mươi đời vui phơi phới
anh sẽ xin trao tận tay các em
đất nước nguyên lành t́nh sông núi
cả ḷng người thơm hương dạ hội

trọn ngày mai ngày mai ngày mai
không hết mùa hai mươi bay nhảy
khi em cất lời ca rún rẩy
anh ngủ giấc dài rất thơ ngây

 

Ngă Trên Núi Việt Hồng Ở Yên Báy Khi Đi Vác Nứa

Tuột dốc té nhào trên hẻm núi
Chết điếng toàn thân trong giây lâu
Mưa rơi đều hạt mưa phơi phới
Ngày đang tàn hiu quạnh rừng sâu

Duỗi soải chân tay gối trên nứa
Ngó trời nhá nhem nghe mưa mau
Tưởng chừng thi thể ai thối rữa
Hồn viển vông chẳng chút oán sầu

Mưa giăng tấm lưới trắng dầy khít
Làng xóm dưới núi ở phương nào ?
Gió lạnh tái tê bó liệm chặt
Lả thiếp người quên bẵng sướt đau

Đầm ḿnh trong hạnh của ẩn mật
Mắt hoen nḥa hứng giọt thiên thâu
Ḍ dẫm tối về đêm tối mịt
Sông xa núi thẳm quê nhà đâu ?

                                                                Yên Báy, 9-1979

 

Prelude cho những chuyến đi, về

 

Trong bóng tối ruỗng im quái gở
Lúc dứt lặng trận chiến man rợ
Hắn rũ bỏ kư ức, và đi
Trong rừng sâu thẳm cây trút lá
Ngọn gió mông muội thổi tràn trề
Bấy giờ hồi trằn trọc lịch sử
Lịm từng cơn ảm đạm ê chề
Sớm hay khuya không biết nữa
Thời khắc tự huỷ hoại vắng tanh
Gịng nước suối chảy không tiếng vang
Giữa bờ bến đắm ch́m lấp lú
Những con trốt quặn thắt huyền bí
Xoay quanh sự thế vui trầm ngâm
Hắn đưa chân theo bước khôn cầm
Trên lối u mê mờ hoặc
Mọi nỗi niềm đều giấu mặt
Mọi sự thực đều lang thang
Hắn đi như thế, không thể khác.
                                                           
Saigon 1982