Lịch sử Triết lư

Sử học – Triết lư

C2

TRIẾT HỌC VÀ LỊCH SỬ[1]

Tác giả: William H. Dray*

Người dịch: Nguyễn Văn Khoa

*

1 - TRIẾT LÝ TƯ BIỆN LỊCH SỬ & TRIẾT LÝ PHÊ PHÁN SỬ HỌC

Một dẫn nhập vào môn triết lư về sử phải bắt đầu bằng sự phân biệt hai loại nghiên cứu hoàn toàn khác nhau, tuy không phải hoàn toàn không liên hệ, và cho đến nay đều mang tên này. Chúng tương ứng với hai nghĩa mà từ lịch sử thường được hiểu. Một mặt, ta dùng nó khi quy chiếu về một ḍng hay chuỗi biến cố: một phần hay một lớp nào đó của hiện thực mà sử gia lấy làm đối tượng nghiệp vụ của ḿnh. Mặt khác, ta cũng dùng nó để chỉ ngay chính công cuộc nghiên cứu của sử gia: một loại nghiên cứu nào đấy, về một đối tượng nghiên cứu bất kỳ[2]. Triết lư về sử trong hai nghĩa khác nhau của từ này thường được gọi phân biệt là triết lư tư biện về lịch sử (từ đây gọi tắt là triết lư tư biện hay triết lư lịch sử), và triết lư phê phán sử học (c̣n được gọi là triết lư h́nh thức hay phân tích về lịch sử, từ đây gọi tắt là triết lư phê phán hay triết lư sử học). Mục đích của triết gia tư biện là phát hiện ra, qua ḍng biến cố của quá khứ, một mẫu h́nh hay một ư nghĩa toàn bộ nằm bên kia tầm mắt của sử gia b́nh thường. Mục đích của triết gia phê phán là soi sáng bản chất của công tŕnh nghiên cứu sử học, để rút ra và xem xét các giả định căn bản, những khái niệm mang tính cấu trúc, phương pháp t́m ṭi cũng như trần thuật của nó, với ư đồ định vị nó trên bản đồ học thuật.

Khi viết sử, các triết gia sử học thường để một mắt nh́n sang lĩnh vực lân cận là triết lư khoa học, với nhiều lư do chính đáng. Do đó, có thể cũng hữu ích khi chúng tôi lưu ư độc giả về sự kiện là một sự phân chia thành hai phần tương tự – tư biện và phê phán – hiếm khi được nh́n thấy trong lĩnh vực sau. Cái thường được gọi là triết lư khoa học tương ứng hoàn toàn với phần triết lư về sử ở đây gọi là triết lư phê phán sử học; mối quan tâm của nó là cấu trúc lôgic và những giả định của nghiên cứu khoa học. C̣n bộ môn nghiên cứu triết lư về loại biến cố và quá tŕnh tự nhiên nh́n trong toàn thể th́ thường được theo đuổi độc lập dưới tên là vũ trụ học (cosmology).

Triết lư tư biện đạt tới mức phát triển cao nhất vào thế kỷ thứ XVIII và XIX, với nhiều quan điểm về lịch sử thế giới được xây dựng bởi các tác giả như Vico*, Kant, Hegel, Comte* và Marx. Ngày nay, thể loại này đă phần nào hết c̣n được giới triết gia chiếu cố. Người đă sản xuất ra được tác phẩm tư biện về toàn bộ lịch sử thế giới nổi tiếng nhất trong thế kỷ XX là Arnold J. Toynbee*, một sử gia phóng túng chứ không phải là triết gia, và trước tác của ông được chào đón nồng nhiệt bởi loại tạp chí như TimeLife hơn là bởi các tạp chí hàn lâm. Tuy nhiên, có thể v́ sự am hiểu quá khứ là quá quan trọng đối với phần đông chúng ta, và v́ niềm tin rằng nó phải mang một ư nghĩa nào đó là quá mạnh, sự quan tâm đến triết lư tư biện về lịch sử chưa hoàn toàn biến mất. Nhưng ngày nay, các văn bản cổ điển của nó ít được nghiên cứu bởi kết luận chung cuộc, mà bởi các quan điểm sâu sắc đặc thù về một bộ phận hay khía cạnh nào đó của quá khứ con người mà chúng được xem là c̣n có thể chuyển tải và truyền đạt. Điển h́nh là cảnh báo của Oswald Spengler* về phong cách Faust[3] của nền văn minh Tây phương chẳng hạn, hay xác quyết của Hegel rằng thay đổi lịch sử luôn luôn mang tính biện chứng.

Nhưng bất chấp những vấn đề (lư luận) h́nh thức mà nghiên cứu triết lư lịch sử có thể vấp phải, đôi khi người ta vẫn cho rằng thật ra ai trong chúng ta cũng đều có một quan điểm lịch sử theo nghĩa tư biện, và ở trường hợp của sử gia, điều này hiển hiện một cách tất yếu trong và qua các công tŕnh của họ. V́ thế, có vẻ như đối với bất cứ ai quan tâm đến lịch sử, và chắc chắn là đối với giới triết gia sử học, ít ra sự cống hiến đôi chút cố gắng vào việc duyệt qua loại nghiên cứu tư biện  chỉ biểu lộ một thái độ thận trọng b́nh thường không hơn không kém. Tuy nhiên, những người kêu gọi tiếp tục nghiên cứu triết lư lịch sử trên cơ sở đó thường có vẻ như lẫn lộn giữa hai nghĩa, và trong sự nhập nhằng này, việc đặt câu hỏi về lịch sử như nghiên cứu [sử học] có thể khiến ta dễ dính líu vào nhiều vấn đề tư biện liên quan đến quá khứ con người hơn. Cho rằng mọi công tŕnh sử học đều phơi bày ít ra là những giả định về lịch sử, và do đó, bất cứ nghiên cứu phê phán nào về những điều sử gia viết cũng phải t́m hiểu xem, trong các hoàn cảnh đặc thù, chúng đă dẫn tới loại kết luận nào, và các kết luận đó có thể chấp nhận được chăng, là điều có thể bênh vực được. Nhưng cho rằng mọi lập luận về sử đều diễn tả một số tin tưởng về tính chất tổng quát của quá tŕnh lịch sử – một quan điểm mặc thị về bản chất con người chẳng hạn – là một chuyện, cho rằng quá tŕnh lịch sử phải giả định một quan điểm nào đó về sự phát triển lịch sử nói chung như một chỉnh thể lại là chuyện khác. Không sử gia nào hay triết gia sử học nào cần phải quyết định xem Hegel đă đúng hay sai khi cho rằng những ǵ đă xảy ra trong ḍng lịch sử đều tất yếu là sự triển khai của Tinh Thần, hoặc xem Toynbee đă đúng hay sai khi tŕnh bày diễn biến nối tiếp của các nền văn minh như con đường thăng tiến từ con người lên Thượng Đế. 

[…]

Đối với quan tâm hàng ngày của sử gia th́ loại hệ quả do nghiên cứu triết lư phê phán khơi dậy là thích đáng hơn, so với loại hệ quả của triết lư tư biện, và một trong những mục đích của quyển sách này1 là đáp ứng được các trăn trở của cả triết gia lẫn sử gia. Để đạt được mục đích kép vừa nói, có lẽ cũng phải nói thêm một chút về quan hệ giữa triết lư sử học, bản thân lịch sử, và loại suy tư riêng mà giới sử gia thường cũng tự dấn vào, gọi là lư thuyết kư sử (historiography), tức là thuật hay phép ghi chép sử.

Như chúng ta biết, việc viết sử lui lại tận thời cổ Hy Lạp, và có thể c̣n xưa hơn. Nhưng dưới h́nh thức một công cuộc nghiên cứu có  phương pháp được kỷ luật và hệ thống hóa, nó chỉ tồn tại đúng nghĩa, tuy không hoàn hảo, trước cuối thế kỷ XVIII. Thật vậy, nếu thế kỷ thứ XVII đánh dấu sự trưởng thành của vật lư học hiện đại, sự trưởng thành của sử học chỉ xảy ra trong thế kỷ thứ XIX. Thế nên chẳng có ǵ đáng thắc mắc, khi tư duy triết lư đứng đắn về sử, như một h́nh thức nghiên cứu có khả năng đưa ra một ngành hiểu biết biệt lập, chỉ xuất hiện vào cuối thế kỷ này, đầu tiên ở Đức với những công tŕnh của Wilhelm Windelband*, Heinrich Rickert* và Wilhelm Dilthey*, rồi sau đó ở Ư với các tác phẩm của Benedetto Croce* và Giovanni Gentile*. Ở Anh, nếu không kể các bài viết hấp dẫn song thất thường của Hume*, vài hậu ư của J. S. Mill* trong System of Logic, và tiểu luận duy nhất của F. H. Bradley* viết năm 1874, th́ có rất ít tác phẩm về triết lư sử học trước các trước tác bao quát và vẫn c̣n rất quan trọng của Robin G. Collingwood* trong các thập niên 1920 và 1930. Nhiều đóng góp đáng kể tuy ít quan trọng hơn của Michael Oakeshott* và Maurice Mandelbaum* cũng được xuất bản trong thập niên 1930.   

Tuy nhiên, ngay cả các tác phẩm của Collingwood cũng không được nghiên cứu rộng răi trước khi triết lư sử học nhận được một khởi đầu   mới, và từ đó phát triển nhanh chóng trong những năm sau thế chiến thứ II, khi triết lư phân tích* vượt ra ngoài khuôn khổ của chủ thuyết  thực chứng logic*, mở rộng phạm vi quan tâm để bao gồm cả bản chất của tri thức lịch sử, bên cạnh các vấn đề khác. Đến một mức nào đó, sự phát triển này được phát động bởi chỉ một bài báo về bản chất của giải thích sử học do triết gia khoa học C. G. Hempel[4] viết năm 1943…   

Thật ra, toàn bộ quyển sách này1 cần chủ yếu được xem như một dẫn nhập vào triết lư sử học như nó đă đâm chồi từ trước tác của giới triết gia phân tích sau chiến tranh thứ II, và nội dung của nó có thể được mô tả, đại khái và gần đúng, như triết lư «phân tích» về sử học. Sự giữ lại từ «phê phán» phần nào là để công nhận tầm quan trọng của tác phẩm Triết lư Sử học : Một Dẫn nhập của W. H. Walsh[5] và vai tṛ của nó trong sự phát triển của bộ môn này: ra đời năm 1957, quyển sách trên đă lên chương tŕnh nghiên cứu cho phần lớn những ǵ được thực hiện từ lúc đó, đồng thời đưa đối kháng tư biện / phê phán vào cuộc tranh luận về lịch sử trong giới triết gia dùng tiếng Anh. Dù sao, cả hai từ này – «phê phán» cũng như «tư biện» – đều có điểm bất tiện. Đặc trưng chính yếu của cái gọi là triết lư tư biện về lịch sử không phải là mọi kết luận của nó đều mang tính tư biện cao, mặc dù chúng thường là như thế, mà là mối băn khoăn liệu lịch sử như một toàn thể có ư nghĩa ǵ chăng? Và đặc trưng chính yếu của cái gọi là triết lư phê phán sử học không phải là nó luôn luôn đặt mọi khẳng định liên quan đến tri thức về quá khứ dưới nhăn quan phê phán, tuy rằng nó cũng làm thế thật, mà là nó trăn trở với loại nghi vấn về nghiên cứu sử học hơn là về quá tŕnh lịch sử. Bởi v́ cứu cánh của họ là làm cho cả bản thân lịch sử chứ không phải chỉ việc nghiên cứu sử học trở thành khả tri, các triết gia tư biện về lịch sử cũng giống sử gia rất nhiều, chẳng khác ǵ những triết gia kia: một nhà nghiên cứu về họ đă ghi nhận rất đúng, rằng tham vọng của các triết gia tư biện là trở thành «siêu sử gia»[6]. Ngược lại, triết gia phê phán sử học chủ yếu là các nhà lôgic học hay phương pháp luận; họ quan tâm chính yếu tới bản chất và giá trị của lối lập luận trong sử học, cũng như tới những khung khái niệm trong đó nó được tiến hành.   

Tuy nhiên, cái ư tưởng cho rằng quan tâm chính của triết gia sử học là về phương pháp cũng đ̣i hỏi một vài dè dặt. Bởi việc nghiên cứu của họ không nhằm thay thế thứ ta t́m thấy trong các giáo tŕnh về phương pháp sử học, một mục đích dù sao cũng có vẻ tự phụ khi rất ít người  trong số họ dấn thân vào việc nghiên cứu và viết sử, tuy rằng cách thức triết gia sử học giải quyết loại vấn đề mà họ đặt ra nhiều khi cũng ảnh hưởng tới cả vừa sự thực hành vừa kết quả của việc nghiên cứu sử học, như thỉnh thoảng vẫn được ghi nhận. V́ thế, thật đáng tiếc là ngoài một số trường hợp đáng chú ư, giới sử gia thường không đón nhận nồng ấm lắm những ǵ các triết gia phát biểu: điển h́nh họ cho rằng chúng là hoặc quá trừu tượng, hoặc quá áp đặt. Thật ra, loại phê phán tương tự đôi khi quả là xác đáng. Tuy nhiên, dù triết lư sử học chắc chắn phải chứng tỏ hiểu biết về mối quan tâm thực sự và quy tŕnh tiến hành của sử gia, khó ḷng chờ đợi ở nó sự mô tả đơn thuần công việc của người viết sử. Mặt khác, chờ đợi ở nó sự kiêng cữ quan điểm trừu tượng cũng không hợp lư chút nào, nếu mục đích của nó là phải xem xét các h́nh thức lập luận và những liên kết ư tưởng ẩn tàng  trong tác phẩm sử học. Tác giả quyển sách này1 cố gắng giữ các quan tâm của cả sử gia lẫn triết gia trong đầu, trong chừng mức mà điều đó là khả thi, khi những thí dụ về việc viết sử không thể được xem xét đủ dài. Ngoài ra, các triết gia sử học đôi khi cũng có thể cảm thấy được khuyến khích bởi sự kiện là chính giới sử gia cũng thường cảm thấy cần thiết phải đặt ra và giải đáp nhiều vấn đề liên quan đến công việc của ḿnh, và chúng đều thuộc loại câu hỏi triết lư, chính xác theo nghĩa ở đây.

[…]

2 – NĂM VẤN ĐỀ CỦA TRIẾT LÝ PHÊ PHÁN SỬ HỌC

Trong các chương sau đây, chúng tôi sẽ lần lượt xem xét năm vấn đề lớn từng được bàn căi nhiều bởi các triết gia phê phán sử học, và ghi lại quan hệ giữa chúng với nhau. Để giải thích phần nào sự lựa chọn các vấn đề này, quy chiếu thêm về triết lư khoa học có thể là hữu ích.

Lư do tồn tại của nhiều tác phẩm triết học về sử thường bị trói chặt vào nghi vấn: liệu nghiên cứu lịch sử có phải là khoa học hay không, theo cái nghĩa mà các môn vật lư, sinh lư, tâm lư, hoặc ngay cả các khoa học ứng dụng như kỹ sư, thường được xem là khoa học. Nếu sử học là – hay trong mọi trường hợp, phải là – khoa học theo cái nghĩa đó, th́ chẳng mấy cần thiết phải có một triết lư phê phán riêng cho nghiên cứu sử học. Bởi trong trường hợp này, phương pháp sử học sẽ đơn giản là phương pháp khoa học đem áp dụng cho loại chủ đề mà sử gia đặc biệt quan tâm, và sử học sẽ được xem như một ngành đặc thù của khoa học xă hội. Dù không hoàn toàn phủ nhận rằng nghiên cứu sử học có nhiều khái niệm và phương pháp riêng, một nhóm triết gia đă lập luận rằng chúng không có một đặc tính căn bản nào có thể  biện minh cho sự tồn tại của một triết lư phê phán biệt lập về yêu cầu được xem là khoa học của sử gia.  Nhóm các triết gia giữ lập trường trên thường được nhắc tới với nhăn hiệu «thực chứng», và bất chấp một số hàm nghĩa có thể tạo nhầm lẫn của từ, quy chiếu này sẽ vẫn thỉnh thoảng được sử dụng sau đây v́ lư do thuận tiện. Các triết gia đối lập với họ thường được gọi là nhóm «duy tâm»[7]; và mặc dù đây là trường hợp sử dụng thuật từ triết học c̣n kém chính xác hơn nữa, ít ra cũng đúng là rất nhiều cảm hứng cho yêu sách rằng sử học, trong một chừng mực quan trọng, phải là một môn học với những mục đích, khái niệm và phương pháp riêng, đă xuất phát từ những triết gia như Dilthey*, Croce*, Collingwood* và Oakeshott*, và họ thường được xếp vào loại triết gia duy tâm.

Chương 2 và 3 của quyển sách này sẽ bàn về những ư tưởng căn bản nhất đă đem lại cho nghiên cứu sử học một cấu trúc; đây cũng đồng thời là những ư tưởng nằm ở trung tâm cuộc tranh luận để khảo sát sử học, xem nó có thể được công nhận, không chút dè dặt, như một trong các khoa học chăng. Ở chương 2, vấn đề tranh căi sẽ là loại h́nh giải thích hay t́m hiểu mà sử gia dùng: các triết gia chống nhóm thực chứng thường khẳng định, trong khi nhóm triết gia thực chứng lại phủ nhận, rằng nó khác trong ư tưởng hay khái niệm với cái thường được xem là giải thích trong loại nghiên cứu khoa học chính thống. Lập trường của các nhà thực chứng sẽ được phác họa trước, sau đó những cân nhắc khác nhau được đề xuất chống lại nó sẽ được thẩm định. Trong chương 3, vấn đề đặt ra sẽ là khảo sát loại kết luận mà sử gia cho là đạt được, xem có thể được xác định là thuộc về cùng một loại h́nh với tính khách quan mà các nhà khoa học cứng[8] thường cho là đạt tới chăng; ở đây, những bất đồng sẽ một lần nữa được ghi nhận giữa các nhà thực chứng cho rằng nó có thể, và các triết gia chống thực chứng cho rằng điều ấy là không thể, và nhiều lập luận để bênh vực lập trường tương ứng của mỗi bên sẽ được tŕnh bày.

Dựa trên những ǵ đă được bàn luận, các chương 4 và 5 sẽ khảo sát hai kỹ thuật được bàn đến nhiều của sử học là phân tích nhân quả và kư thuật. Cái trước được xem là đă cung cấp một cơ sở nào đó cho kỳ vọng được xem là khoa học của giới sử gia; cái sau ngược lại thường bị xem là c̣n mang tàn dư của tư duy phi khoa học mà nhiều sử gia chưa thoát ra được. Chương 4 sẽ xem xét luận điểm cho rằng khái niệm nhân quả như các sử gia quen dùng thực ra bao hàm nhiều ư tưởng tiêu biểu cho loại nghiên cứu gọi là nhân văn hơn, và thường bị cho là nằm ngoài các quan tâm khoa học. Chương 5 sẽ khảo sát cái quan điểm ngày càng phổ biến rằng sử học, trong chừng mức mà nó khoác lấy h́nh thức kư thuật, không những chỉ là phi khoa học từ bản chất, mà c̣n có tiềm năng không phải là hiểu biết nữa, hay dù sao cũng là chủ quan tới độ bất thường. Để phản bác, lập luận được đưa ra là kư thuật cũng có cái lôgic đặc thù của nó, dù đây không phải là thứ có thể dễ dàng được công nhận như lôgíc bởi những kẻ đă quen lấy lối lư luận của các khoa học cứng làm mẫu mực.

Chương cuối sẽ tập trung trên một giả định lớn thuộc loại siêu h́nh  mà đôi khi c̣n bị nghi ngờ là luôn luôn có mặt, ít nhất một cách mặc nhiên, trong mọi nghiên cứu sử học: giả định của thuyết quyết định.  Nó dẫn ta tới việc khảo sát vai tṛ của loại khái niệm như may rủi, sáng tạo, và tự do trong phân tích lịch sử; từ đấy c̣n xuất hiện thêm nhiều lư lẽ để không đồng nhất nghiên cứu lịch sử quá sát với những điển mẫu khoa học. Tất nhiên, ngoài sự kiện tự nó đă là một lập trường siêu h́nh mà sử gia có thể vướng phải hay không, quyết định luận c̣n là một nét nổi bật của nhiều triết lư tư biện. Tuy nhiên, v́ sự chấp nhận hay bác bỏ những giả định siêu h́nh về quá khứ không tương đương với việc đề xuất ra một triết lư lịch sử, trọng tâm của chương 6 không cho thấy một thay đổi vị trí nào từ quan điểm phê phán sang quan tâm tư biện – ngay cả một thay đổi vị trí từ phê phán phép kư sử sang phê phán triết lư tư biện. Bởi v́ vẫn có những vấn đề thuộc loại phân tích để nêu lên, về cách thức một giả định siêu h́nh như thuyết quyết định vận động, ngay trong cuộc nghiên cứu sử học.

Trong các phần sau đây, mặc dù tác giả đôi khi lấy (hay để lộ) quan điểm này hoặc quan điểm nọ, mục đích chính của quyển sách1 này không nhằm ủng hộ một lập trường đặc thù nào, mà nhằm làm cho độc giả quen thuộc hơn với những luận cứ đă được đưa ra bởi tất cả các bên, về đủ thứ bất đồng đáng chú ư, và nói một cách tổng quát, tŕnh bày một bức tranh không thiên vị, dù tất yếu chỉ có thể là một phác thảo, về những tranh luận gần đây nhất chung quanh các vấn đề triết học về sử. […]

William H. Dray

Philosophy of History

(Triết lư Lịch sử), 2nd ed.,

Introduction (Dẫn nhập), tr. 1-7.

Englewood Cliffs (N.J.), Prentice-Hall, 1992.

 

 

 



[1] Trích dịch từ: William H. Dray, Philosophy of History (Triết lư Lịch sử), 2nd ed., Introduction (Dẫn nhập), Englewood Cliffs (N.J.), Prentice-Hall, 1992. NVK

[2]  History (tiếng Anh), Histoire (tiếng Pháp) đều mang cả hai nghĩa trên. Trong tiếng Đức có hai từ: Geschicte (hiện thực) và Historie (môn học). Trong tiếng Việt chúng ta cũng có thể dùng hai từ: lịch sử và sử học. V́ vậy, trong dịch phẩm này, chúng tôi  dùng: lịch sử để chỉ «ḍng hay chuỗi biến cố đă xảy ra trong quá khứ», và sử học để chỉ môn học có đối tượng là lịch sử hiểu theo nghĩa trước mỗi khi có thể. Khi ngữ cảnh  cho phép hiểu theo cả hai nghĩa, chúng tôi gộp chung cả hai trong từ lịch sử. NVK

[3] Nhân vật trong một huyền thoại cổ điển Đức rất thịnh hành vào thế kỷ thứ XVI. Là một nhà bác học thành công song luôn bất măn với cuộc đời của ḿnh, Faust thỏa hiệp với quỷ Lucifer: đánh đổi linh hồn lấy sự hiểu biết và khoái lạc trần gian vô tận. Nhờ quỷ Mephistopheles, cùng với tay chân người trần của hắn là Wagner, Faust có được mọi măn nguyện trong phần đời sau (24 năm theo một số văn bản), trước khi bị Lucifer tước mất linh hồn. Về sau, tên Faust và h́nh dung từ Faustian được dùng để chỉ loại hoàn cảnh trong đó kẻ tham vọng sẵn sàng vất bỏ mọi giá trị luân lư để đạt được quyền lực và thành công trong một thời gian giới hạn. NVK

[4] Xem: Carl G. Hempel, Chức năng của Quy luật Tổng quát trong Sử học = The Function of General Laws in History. In lại trg: Patrick Gardiner, Lư thuyết Sử học = Theories of History (New York : The Free Press, 1959).

[5] Xem: W. H. Walsh, Triết lư Sử học: Một Dẫn nhập = Philosophy of History : an Introduction (New York: Harper Collins, 1960).

[6] Xem: John Barker, Các Siêu sử gia : Kẻ làm ra Quá khứ của Chúng ta  = The Superhistorians : Makers of our Past (New York : Charles Scribner’s Sons, 1982).

[7] Về sự phê phán khuynh hướng chia các triết gia sử học làm hai nhóm «duy tâm» và «thực chứng», xem: Maurice Mandelbaum, Historical Explanation : The Problem of Covering Law (Giải thích trong Sử học : Vấn đề Quy luật Bao trùm). Đăng lại trong: History and Theory, I, No 3 (1961), tr. 229-230.

[8] «Cứng»«mềm» là hai từ thông tục được dùng để đối lập các khoa học trên cơ sở của sự nghiêm ngặt về phương pháp, sự chính xác và sự khách quan của các bộ môn trong nhận thức đại chúng. Xuất phát cùng thời với máy tính và tin học, sự đối lập này ngày nay đă lan ra khắp mọi ngành, và không ngừng gây tranh căi dù khá tiện dụng. Nói đơn giản, các khoa học tự nhiên và chính xác được xem là «cứng», trong khi các khoa học nhân văn và xă hội bị coi là «mềm», với hàm ư định vị không thể tránh trên bậc thang giá trị khoa học. NVK