Phụ lục
Bối cảnh lịch sử Việt Nam vào thế kỷ 20.
Cuối thế kỷ 19, Việt Nam hoàn toàn bị thực dân Pháp thống trị. Nam Kỳ, là thuộc địa. Bắc Kỳ trở thành đất bảo hộ. Trung Kỳ, tiếng là thuộc quyền cai trị của nhà Nguyễn nhưng thực chất cũng chỉ hữu danh vô thực. Vua Hàm Nghi rời Huế kháng chiến nhưng bị bắt. Sau, Thành Thái tiếp tục chống ách ngoại thuộc, giả điên che mắt Pháp, nhưng rồi bị truất và bị đầy ra đảo Réunion. Cùng một chí hướng, Duy Tân cũng cùng số phận. Phong trào Cần Vương với những cuộc khởi nghĩa của Phan Đ́nh Phùng, Tán Thuật, Hoàng Hoa Thám ...chứng tỏ cách nh́n và phương thức chống xâm lăng của lớp sĩ phu cựu học bế tắc. Hai nhân vật xuất sắc gióng hai tiếng chuông, Minh Xă với Phan Châu Trinh và Ám Xă với Phan Bội Châu. Họ đều đọc Tân Thư, đồng t́nh với thuyết Tam Dân do Tôn Dật Tiên đề xướng ở Trung Hoa, và chịu ảnh hưởng tư tưởng của cuộc Cách Mạng Pháp.
Phan Châu Trinh chủ trương ‘’chấn dân khí, hưng dân trí, hậu dân sinh’’, tranh đấu theo đường lối cải cách, lập Đông Kinh Nghĩa Thục với mục tiêu giáo dục quần chúng để từng bước tiến đến xây dựng chủ quyền dân tộc. Bị tù Côn Đảo, Trinh được phóng thích nhờ sự vận động của những người Pháp tiến bộ, sang Paris năm 1911, tiếp tục tranh đấu, lại bị tù, 14 năm sau về nước và chưa đầy 9 tháng th́ tạ thế. Đám tang Phan Châu Trinh năm 1926 là một sự kiện đánh thức tinh thần dân tộc. Phan Bội Châu gây phong trào Quang Phục, t́m cách lật đổ chế độ thực dân bằng mọi cách, đặc biệt là đấu tranh quân sự. Châu từng liên hệ với Đề Thám, xướng lên phong trào Đông Du với mục đích t́m sự hỗ trợ của Nhật trên con đường hiện đại hóa một xă hội mang những giá trị Khổng giáo như Việt Nam. Bị bắt và giải về nước năm 1925, Châu sống ở Bến Ngự, địa danh nơi ông bị giam lỏng cho đến ngày ĺa đời.
Hai thập niên đầu thế kỷ 20, phong trào giành chủ quyền đất nước tiếp tục với những đảng phái như Tân Việt (TV), Thanh Niên (TN), Quốc Dân Đảng (QĐD). Trong giai đoạn này, TN do Nguyễn Ái Quốc điều động du nhập hệ ư thức Cộng Sản (CS), TV và QĐD thiên về hệ ư thức Cách Mạng Dân Chủ Tư Sản Âu Châu . Về phương thức hành động Cách Mạng, cách nh́n của hai nhà ái quốc họ Phan vẫn là hai cách nh́n chính, mặt nào hỗ trợ lẫn nhau, không đối kháng chính trị. Trong Nam, bắt đầu có những vận động theo chủ trương của Trinh, nhưng vài năm sau Nguyễn An Ninh phải thay đổi phương thức đấu tranh v́ tính cách ngoan cố của thực dân Pháp. Ngoài Bắc, Nguyễn Thái Học của Việt Nam QDĐ cũng không có chọn lựa nào khác, phải tiến hành cuộc Khởi Nghĩa Yên Bái năm 1930. Dẫu thất bại, nhưng cuộc khởi nghĩa này đánh một dấu mốc mới trong tâm thức người dân: họ gọi những người hy sinh cho đại cuộc là những Chiến sĩ Cách Mạng. Nguyễn Ái Quốc liên hiệp được những người CS ở 3 miền Trung, Nam, Bắc và thành lập Đảng CS Việt Nam. Nhưng không bao lâu sau, đảng này bị Dệ Tam Quốc Tế giải thể v́ mang mầu sắc quốc gia, bị kết là mang tính thỏa hiệp giai cấp, hữu khuynh và cơ hội. Nguyễn Ái Quốc bỗng mất tích, và một nhóm lănh đạo được đào tạo tại Liên-Xô xuất hiện nắm quyền, lấy lại tên cũ là Đảng Cộng Sản Đông Dương (ĐCSĐD), gồm Bắc – Trung – Nam Việt Nam, Lào và Cao Mên. Không lâu sau, cuộc nổi dậy vũ trang Xô-Viết Nghệ Tĩnh bùng ra. Lại thêm một thất bại, với những người lănh đạo đă được tôi luyện bài bản ở Moscou mà lá cờ giải phóng dân tộc chỉ là một trong những bước góp phần đẩy mạnh cuộc cách mạng thế giới của giai cấp vô sản. Trong những năm 30, thanh niên yêu nước dấn thân bị Pháp bắt. Nhà tù Côn Đảo và Sơn La thành hai nơi đào tạo những chiến sĩ Cách Mạng. Mâu thuẫn Quốc - Cộng bên Trung Hoa lây sang Việt Nam, họ cũng phân hóa trên b́nh diện ư thức hệ, tuy vẫn cùng giữ mục tiêu giành độc lập cho đất nước.
Thế chiến 2 nổ ra. Trục phát xít Đức-Ư-Nhật tiến công khắp nơi. Pháp thất trận năm 1940 khiến chính quyền thực dân ở Đông Dương hợp tác với Nhật, tiếp tục quản lư hành chính và an ninh. Cuộc nổi dậy của 8 tỉnh Nam Bộ bị Nhật-Pháp đàn áp dă man. Nhật tung khẩu hiệu Đại Đông Á và độc lập dân tộc, trá h́nh cho một cuộc xâm lăng khá qui mô. Khi đó, Nguyễn Ái Quốc, kẻ h́nh như bị quản chế ở Moscou sau năm 30, đi sang Trung Hoa, gia nhập Việt Nam Cách Mạng Đồng Minh Hội, một tổ chức liên kết những người Việt Nam chống Nhật. Năm 41, ông ta về nước, triệu tập Hội Nghị Trung Ương 8 của ĐCSĐD ở Pắc Bó, mục tiêu nêu rơ là chống Phát-xít và Thực dân để giành độc lập. Nhằm thể hiện mục tiêu đó, ĐCSĐD t́m cách thiết lập một mặt trận quốc gia, một mặt kết hợp mọi tầng lớp, mọi tôn giáo, mọi đảng phái..., mặt khác xây dựng một lực lượng vơ trang nhằm cướp chính quyền khi thời cơ đến tay. Việt Nam Độc Lập Đồng Minh, gọi tắt là Việt Minh (VM), ra đời. Năm 42, Nguyễn Ái Quốc sang Trung Hoa và bị bắt. Ở miền Nam, những người CS tả khuynh tiến hành Nam Kỳ Khởi Nghĩa, bị thực dân Pháp đàn áp và tiêu diệt một phần lớn lực lượng. Trong thời điểm 43-44, chiến tranh du kích được khởi động trên vùng Thượng Du miền Bắc. Ở vùng đồng bằng, quần chúng được vận động chống sưu cao thuế nặng, chống chính sách thu gạo, trồng đay của Nhật – Pháp. Đầu năm 45, trục Phát-xít đứng trước nguy cơ chiến bại hiển nhiên. Sợ Pháp trở cờ, Nhật tiến hành cuộc đảo chánh vào ngày 9-03. Chế độ thuộc địa Pháp tan nát nội trong chỉ một ngày. Những đảng phái như Đại Việt hy vọng vào chuyện được Nhật trao trả độc lập trong liên minh Đại Đông Á. Bảo Đại tuyên bố độc lập, đơn phương hủy bỏ hiệp ước 1884 đă khiến miền Nam trở thành thuộc địa và miền Bắc, đất bảo hộ của Pháp. Chính phủ Trần Trọng Kim ra đời. Nhưng không thực quyền, Chính phủ này bó tay trước nạn đói năm Ất Dậu khiến gần 2 triệu người chết, tồn tại được 4 tháng.
Khi Hồng quân Liên-xô thắng đạo quân Quan đông của Nhật, thời cơ đă đến. Ngay sau khi Nhật đầu hàng, Việt Minh thành lập Ủy ban khởi nghĩa và ra quân lệnh số 1 ngày 13-08-1946, phát động tổng khởi nghĩa giành chính quyền. Ba ngày sau, Đại hội Quốc dân ở Tân Trào qui định Quốc kỳ, Quốc ca, Chính sách 10 điều và bầu Ủy ban dân tộc giải phóng Việt Nam. Ngày 19-08, Hà Nội khởi nghĩa; 23 đến lượt Huế, rồi 25, Sài G̣n vùng dậy. Ngày 25, Bảo Đại chấp nhận thoái vị. Sau 12 ngày, chính quyền Thực dân bị đập tan và chế độ quân chủ bị xóa xổ. Ngày 26, Nguyễn Ái Quốc - nay mang tên Hồ chí Minh, chủ tịch Ủy ban giải phóng - về Hà Nội. Ngày 2-09, Hồ Chí Minh ra mắt đồng bào tại vườn hoa Ba Đ́nh, đọc tuyên ngôn độc lập, trở thành Chủ tịch Chính phủ lâm thời (CPLT)
.
CPLT mới thành lập không quân đội, không tài chính nhưng phải đối phó ngay với những vấn đề gai góc. Vào giải giới quân Nhật, phía Nam có liên quân Anh - Ấn với ư đồ tạo thế thuận lợi cho người Pháp trở lại Đông Dương trong tinh thần bản tuyên bố 24-03-1945 của De Gaulle, lănh tụ nước Pháp trong thế chiến 2. Nam bộ bắt đầu kháng chiến ngày 23-09-1946. Ngay tháng 10, phong trào ‘‘Nam tiến’’ kêu gọi thanh niên gia nhập Giải phóng quân vào chi viện miền Nam rầm rộ. Phía Bắc, quân Trung Hoa Dân quốc lên đến 180,000 tiến vào từ 2 ngả, từ Vân Nam do Lư Hán thống lănh và từ Lưỡng Quảng do Chu Phúc Thành chỉ huy. Nhân vật điều hợp chính trị là Tiêu Văn, kẻ vốn đă có liên hệ với những người Việt Nam yêu nước lưu vong, nhất là những người sáng lập Việt Nam Cách Mạng Đồng Minh Hội (VNCMĐMH) ở Quảng Châu. Cùng đoàn quân Vân Nam, Việt Nam Quốc Dân đảng - tức Việt Quốc (VQ)- theo vào dưới sự lănh đạo của Nguyễn Tường Tam và Vũ Hồng Khanh. Từ Quảng Tây, Nguyễn Hải Thần, lănh đạo VNCMĐMH - tức Việt Cách (VC) – cũng tháp tùng Tiêu Văn tiến về Hà Nội. VQ và VC không chấp nhận CPLT, t́m cách chia sẻ quyền lực chính trị với VM, dẫu ban đầu quyền lực đó ảo nhiều hơn thực. Thù ngoài, là thực dân Pháp và quân đội Trung Hoa của Tưởng Giới Thạch. Thực dân với khẩu hiệu Đông Dương thuộc Pháp được Đồng Minh bật đèn xanh, nhất là Mỹ từ ngày Truman lên làm Tổng Thống. Trung Hoa với những ư đồ trục lợi và 18 vạn quân phải nuôi ăn là một gánh nặng trong khi miền Bắc lại lũ lụt đói kém. Trong nội t́nh VN, chia rẽ và đấu tranh ngay cả bằng những phương cách khủng bố giữa VM và VC,VQ, Đại Việt...tạo ra những khó khăn chính trị. VM bị tố cáo là h́nh thức Mặt Trận của ĐCSĐD. Hồ Chí Minh giải tán ĐCSĐD, lập ra Hội Nghiên Cứu Chủ nghĩa Mác. Quyết định khá táo bạo này nhằm một mặt thỏa măn đám tướng lănh quân Trung Hoa đa phần là Quốc Dân Đảng Trung Quốc, mặt khác xoa dịu đấu tranh đảng phái trong nội bộ Việt Nam. Mục tiêu chiến thuật của Hồ Chí Minh là thúc đẩy việc hợp thức hóa thật nhanh một quốc gia qua đầu phiếu bầu Quốc Hội Lập Hiến, thành lập Chính Phủ và soạn thảo Hiến Pháp làm nền tảng pháp lư để xác lập nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa (VNDCCH). Tháng 1-1946, cuộc diễn tập dân chủ đầu tiên của nhân dân Việt Nam: Quốc Hội được bầu ra theo thể thức phổ thông đầu phiếu. Chính Phủ Liên Hiệp kháng chiến do Quốc hội đề cử gồm thành phần trung lập và những đảng phái trên chính trường, trong đó có VC, VQ, và đảng Xă Hội, đảng Dân Chủ là 2 đảng thoái thân của ĐCSĐD. Trong khi đó, Pháp thương thuyết với Trung Hoa, t́m cách đổ bộ vào miền Bắc. VNDCCH gấp rút kư với Pháp Hiệp Định Sơ Bộ (HĐSB) ngày 6-03 trước khi có thỏa hiệp Pháp-Hoa, tận lực khai thác mọi mâu thuẫn giữa đám tướng lănh Hoa ở miền Bắc và chính phủ trung ương Trung Hoa Dân Quốc ở Trùng Khánh. VQ và VC cáo buộc HĐSB là thỏa hiệp bán nước cho Pháp. Họ dựa vào thế quân đội Hoa để phá rối, kêu gọi biểu t́nh, t́m cách lật đổ Chính Phủ. Hà Nội mất an ninh. Khủng bố, ám sát...xẩy ra trên đường phố. Hiệp định Pháp-Hoa kư kết ở Trùng Khánh: quân Trung Hoa Dân Quốc sẽ rút hết, chậm lắm là vào tháng 6-1946, để quân Pháp thay thế chiếm đóng Bắc và Trung bộ. Đô Đốc D’Argenlieu, Cao Ủy Pháp, tiếp tục thi hành kế hoạch Đông Dương thuộc Pháp mặc dầu HĐSB đă xác nhận (i) VNDCCH là một nước tự do có nghị viện, quân đội, tài chính...trong Liên bang Đông Dương và Liên Hiệp Pháp (ii) Pháp cam đoan thừa nhận kết quả một cuộc Trưng cầu dân ư về việc thống nhât ba miền (iii) Quân Pháp thay quân Trung Hoa là 15000 người, sẽ rút đi sau 5 năm và (iv) tiến hành một cuộc đàm phán nhằm kư kết một hiệp ước chính thức Pháp-Việt. Để thực hiện cuộc đàm phán này, hai bên họp Hội nghị trù bị Đà Lạt ngày 12-04-1946. D’argenlieu phá hội nghị này bằng cách đơn phương chiếm đánh Tây Nguyên, với ư đồ lập lên một nước tự trị ngay trên lănh thổ Việt Nam, trong khi phái đoàn Quốc hội nước VNDCCH thăm viếng Quốc hội Pháp. Tháng 6, Hồ Chí Minh đích thân sang Pháp, mấy ngày sau khi đi mới biết d’Argenlieu đă thành lập một chính phủ Nam Kỳ tự trị, xoá bỏ trên thực tế tất cả những cam kết của HĐSB. Tháng 7, cuộc đàm phán chính thức ở Fontainebleau khai màn, nhưng đến ngày 13-09, phái đoàn VNDCCH ra tuyên bố vạch rơ âm mưu xác lập chế độ thuộc địa của Thực dân Pháp rồi lên đường về nước. Ở miền Bắc, đám lănh tụ Việt Cách theo quân Hoa triệt thoái sang Quảng Tây. Quốc Dân đảng cũng rút chạy về Lào Cai. Nguyễn Tường Tam tháp tùng Bảo Đại đi Trùng Khánh tháng 5 để t́m hỗ trợ của Tưởng Giới Thạch: thất bại, cả hai vị này quyết định không về nước. Ngày 14-09, Hồ Chí Minh cuối cùng kư kết được một Tạm Ước với Pháp, cứu văn thất bại của cuộc đàm phán Fontainebleau, rời Paris và cập bến Hải Pḥng ngày 20-10. Nhưng Tạm Ước chỉ là cách giữ thể diện tạm bợ cho hoà b́nh và mua thời gian để sửa soạn chiến tranh. Tháng 11, Quốc Hội thông qua bản Hiến Pháp 1946, xác định một nước Việt Nam thống nhất, theo thể chế dân chủ đại nghị, đặc biệt không mang dấu vết ư thức hệ Mác-Lênin. Thời điểm đó, Pháp nâng mức khiêu khích gây hấn, và cuối cùng tập trung lực lượng đánh chiếm Hải Pḥng và Lạng Sơn ngày 20-11. Ở Hà Nội, vào ngày 18 tháng 12, quân Pháp chiếm Bộ Tài Chính, Bộ Giao Thông và gửi tối hậu thư đ̣i tước vũ khí của Tự Vệ, lực lượng bán quân sự của VNDCCH. Hôm sau, Hà Nội trở thành chiến trường. Ngày 20-12-1946 Hồ Chí Minh kêu gọi toàn quốc kháng chiến. Chiến tranh Đông Dương chỉ kết thúc sau 8 năm khói lửa với Hiệp Định Genève, sau chiến thắng Điện Biên Phủ.
Sau khi hạ lệnh Kháng Chiến Toàn Quốc, Hồ Chí Minh yêu cầu quân đội Pháp trở về vị trí cũ trước ngày 17 tháng 12, thôi càn quét để chấm dứt chiến sự, quay trở lại đàm phán. Ngày mồng 2 tháng 1 năm 1947, Bộ Trưởng Bộ Hải Ngoại Moutet đến Hà Nội. Thư của Hồ Chí Minh gửi Moutet bị D'Argenlieu chặn lại. D'Argenlieu hoan hỉ báo cho De Gaulle: ‘’ Nhờ ơn Chúa, Moutet đă không có một cuộc tiếp xúc nào với Hồ Chí Minh và bè lũ... Sự bỏ chạy của chính phủ Hồ Chí Minh mở ra cho nước Pháp những thuận lợi để hoàn thành một cách xứng đáng sứ mệnh tại Đông Dương’’.
Nền Đệ tứ Cộng Ḥa nước Pháp ra đời. Chính Phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa đề nghị ngưng chiến. Thủ tướng Chính Phủ Pháp Ramadier đồng ư, để Cao Ủy Bollaert và tướng Valluy ra điều kiện. Mùa thu năm 47, Valluy cho hành quân, suưt bắt được Hồ Chí Minh gần Bắc Cạn, báo cáo với Chính Phủ Pháp đă đánh tan quân lực Việt Minh. Cựu hoàng Bảo Đại ở Hồng Kông được Pháp mời trở lại sân khấu cầm đầu phong trào Quốc Gia. Tháng 6-1948, Chính Phủ Pháp và Nguyễn Văn Xuân, người của Bảo Đại, ra một tuyên bố chung về thỏa ước Vịnh Hạ Long, đặt cơ sở cho hiệp định Pháp - Việt sau này. Tháng 3 năm 1949, Auriol và Bảo Đại kư kết tại Elysée một hiệp định chẳng khác ǵ mấy so với nội dung của Tạm Ước 14-9. Bảo Đại trở thành Quốc Trưởng của một Quốc Gia Việt Nam, cử Nguyễn Văn Xuân làm Thủ Tướng, nhưng Chính Phủ chỉ là cái thai bị sẩy sau một cuộc bạo dâm, không Quốc Hội, không Hiến Pháp, nhiều năm không có cả ngân sách. Pignon, được cử làm Cao Ủy thay Bollaert, tiến hành triệt để ‘’Việt Nam hoá’’ chiến tranh để bù vào sự thất bại chính trị của giải pháp Bảo Đại. Số người Việt có mặt trong các binh chủng tác chiến như Nhẩy Dù, Không và Hải quân tăng lên rất nhanh. Lực lượng này có lúc lên đến hơn 220,000 người với trang bị khá hiện đại trong chiến tranh Đông Dương. Nhưng cuộc chiến này giằng dai không người thua kẻ thắng, tạo điều kiện chính trị để Việt Minh hoàn toàn chiếm chính danh của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Trong khi đó, đạo quân viễn chinh lên đến 150,000 người, tốn kém mỗi năm là 300 tỉ quan, một gánh nặng cho nước Pháp đang phải xây dựng lại sau thế chiến II. Cuốí năm 47, Pháp bất ngờ tiến đánh Việt Bắc, mục đích tiệu diệt toàn bộ ban lănh đạo kháng chiến. Chiến dịch này thất bại: quân Pháp chết 3,300, bị thương 4,000, mất 255 quân xa, 18 máy bay và 38 giang hạm... Pháp hiểu cuộc chiến này không phải là chiến tranh qui ước. Phía Việt Nam, giải phóng dựa trên chiến thuật du kích vận động, là một cuộc chiến tranh nhân dân, hai mặt chính trị và quân sự bổ xung nhau.
Cuối năm 49, Mao Trạch Đông thắng Tưởng Giới Thạch, thành lập nước Cộng Ḥa Nhân Dân Trung Hoa. Đây là một bước ngoặt trong cuộc kháng chiến giành độc lập của Việt Nam. Đầu năm 50, Hồ Chí Minh sang Bắc Kinh, rồi Moscou. Trung Quốc và Liên Xô lần lượt công nhận nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa. Trung Quốc thành hậu cứ, tiếp tế khí giới đạn dược, và Việt Nam tất nhiên sẽ quay theo trục quay của những nước Xă Hội Chủ Nghĩa. Hồ Chí Minh chính thức thành lập Đảng Lao Động Việt Nam (ĐLĐVN), hậu thân của Đảng Cộng Sản Đông Dương. Từ năm, sáu ngh́n đảng viên năm 45, số người vào Đảng lên đến một trăm hai mươi ngh́n ở đầu năm 50, ồ ạt và ô hợp đến độ Đảng phải ra lệnh ngưng kết nạp. Đồng thời, cố vấn Trung Quốc được ‘‘mời’’ làm nghĩa vụ quốc tế, giúp tiến hành chiến tranh và cải tạo xă hội. Ngực găm huy hiệu Mao, những Lă Quí Ba, Vi Quốc Thanh, Kiều Hiểu Quang, Trần Canh... sang Việt Nam.
Tháng 9, chiến dịch Biên Giới: lực lượng Việt Minh tấn công Lạng Sơn, Đồng Khê. Pháp rút lui từ Cao Bằng về Thất Khê, bị tổn thất lớn. Pháp đành bỏ Lạng Sơn, Lao Cai, Ḥa B́nh. Vùng biên giới Việt-Trung được giải tỏa, tạo thế thuận lợi cho Việt Minh. Mỹ can thiệp, viện trợ cho Pháp. Đại tướng De Lattre de Tassigny được cử qua Việt Nam, xây dựng một vành đai trắng ở châu thổ sông Hồng, tăng cường không lực, củng cố đội quân Quốc Gia của Chính Phủ Bảo Đại và nỗ lực ‘b́nh định’ những vùng quân đội Pháp-Việt kiểm soát. De Lattre phần nào thành công, tiến chiếm Ḥa B́nh. Tháng 12 năm 51, Việt Minh phản công, đẩy Pháp vào thế pḥng ngự. Đầu 53, lực lưọng Việt Minh giải phóng Sầm Nứa bên Lào, đẩy mạnh chiến tranh du kích trong Nam và Trung bộ. De Lattre bệnh,rồi chết. Navarre sang thay vào giữa năm 53. Quân Pháp nay có 250000 lính, với 26 đại đội Pháo binh, 528 máy bay...cộng thêm lực lượng quân Quốc Gia gồm 300000 người, mở chiến dịch phản công ở khắp nơi.
Đầu năm 1954 Liên Xô đề nghị giải quyết vấn đề Đông Dương. Khi đó, tại Berlin, ngoại trưởng Pháp, Anh, Mỹ đồng ý đưa chuyện Đông Dương bàn ở Genève, sẽ mời Trung Quốc và Ấn Độ tham gia. Thủ tướng Ấn kêu gọi hai bên ngưng chiến, nhưng lực lượng đặc biệt của Pháp với 500 cố vấn Mỹ vẫn muốn thực hiện kế hoạch Navarre, chủ trương đánh một trận quyết định, chọn Điện Biên Phủ làm chiến trường. Bộ Trưởng Ngoại Giao Mỹ Dulles ngỏ lời với Bộ Trưởng Pháp Bidault về khả năng dùng bom nguyên tử ở Điện Biên Phủ khi nguy cơ thất thủ xảy ra. Chiến dịch Điện Biên Phủ kéo dài hai tháng với 3 cuộc tập kích lớn, đến ngày 7-05-1954 tướng De Castries xin đầu hàng. Quân Pháp mất gần hết những đơn vị ưu tú,1 sĩ quan cấp tướng, 16 cấp tá, 1749 sĩ quan và hạ sĩ quan, và 16200 lính thiện chiến. Chiến thắng Điện Biên của quân đội nhân dân nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa dưới sự chỉ huy của Vơ Nguyên Giáp chấn động cả thế giới.
Chiến tranh Đông Dương kết thúc sau đó với Hội Nghị Genève được tổ chức từ 26-04 đến 21-07, nghị trình đầu là chuyện Triều Tiên, sau đó mới đến Việt Nam vào ngày 8-05, đúng một ngày sau chiến thắng Điện Biên. Ngày 10-05, Phạm Văn Đồng đưa ra quan điểm của Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa, đòi Pháp công nhận quyền độc lập và tự chủ của Việt Nam, nhưng cũng xác nhận sẵn sàng gia nhập Liên Hiệp Pháp. Khi ấy, hai khối mang tên Thế giới Tự Do và Xă Hội Chủ Nghĩa đă cắt đôi nước Triều Tiên. Hai nước “anh em’’ Trung Quốc và Liên Xô o ép một giải pháp tương tự với Việt Nam. Nhưng cắt Việt Nam ở đâu? Vĩ tuyến 17 trở thành vết chém ngang lưng Tổ Quốc, với một điều khoản hứa hẹn sẽ tổ chức Tổng Tuyển Cử thống nhất đất nước chậm nhất là vào tháng 7-1956. Nhưng ai cũng biết đây là hứa suông, không phải là một thỏa thuận pháp lư. Đến năm 55, số người di cư từ Bắc vào Nam lên đến gần một triệu. Tập kết từ Nam ra Bắc có, nhưng không bao nhiêu. Trung Ương Cục miền Nam dưới quyền của Lê Duẩn gài cán bộ sửa soạn cho bước đấu tranh sắp tới.
Ở miền Bắc, chính sách ‘’Thổ cải’’ và đường lối chỉnh huấn chỉnh phong bên Tầu du nhập vào Việt Nam với cái tên Cải Cách Ruộng Đất và Chỉnh đốn Tổ Chức đầu những năm 50. Từ 1953, Chính Phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa đă tiến hành Giảm tô - Giảm tức ở nông thôn những vùng giải phóng, lập lại kinh nghiệm Trung Quốc ởi mức độ nhẹ hơn. Bị phản đối, Hồ Chí Minh viết thư xin lỗi đồng bào, nhưng ít lâu sau luật Cải Cách Ruộng Đất (CCRĐ) được ban hành và mang ra áp dụng vào thời điểm chiến dịch Điện Biên cho đến 1955. Đồng thời phong trào Chỉnh Đốn Tổ Chức (CĐTC) trong bộ máy Chính quyền và Đảng được phát động, tổ chức ‘‘cũ’’ với những người không thuộc giai cấp cốt cán bị loại, số nạn nhân có thể lên trên 30000. CCRĐ qui định t́m và xử 5% địa chủ, phá nát cơ sở làng xă truyền thống, gây ra những oán thù truyền đời, con số nạn nhân ước lượng trên 170000. Ở Hà Nội, vào tháng 1-56 Giai Phẩm mùa Xuân là báo tư nhân ra đời nhưng bị tịch thu.
Tháng 2 năm 1956, Đại Hội 20 của Đảng Cộng Sản Liên Xô (ĐCSLX) cho nổ 1 quả bom tấn với báo cáo KrútSốp chống ’’ Tệ sùng bái cá nhân ’’, vạch trần tội ác của Stalin, và đề ra luận điểm chung sống ḥa b́nh, cho rằng đứng trước hiểm họa của cuộc chiến tranh thế giới, nhiệm vụ cấp thiết của các ĐCS trên thế giới là giải trừ quân bị, không dùng bạo lực để giải quyết "ai thắng ai" với hệ thống tư bản chủ nghĩa. Về đối nội, ĐCSLX cho rằng các ĐCS cầm quyền ở nước xă hội chủ nghĩa cần ra sức phát triển kinh tế, nâng cao đời sống dân chúng, đồng thời mở rộng tự do dân chủ, coi trọng chế độ pháp trị xă hội chủ nghĩa và chống sùng bái cá nhân lănh tụ. Tháng 5, Mao Trạch Đông phát động phong trào Trăm hoa đua nở trăm nhà đua tiếng. Tháng 6, nổi dậy ở Ba Lan. Rồi tháng 10, ở Hungary. Ở Hà Nội, Giai Phẩm mùa Thu xuất bản vào tháng 8, bán nguyệt san Nhân Văn vào tháng 9. Tháng 10, Hội nghị 10 của Ban Chấp Hành Trung Ương ĐLĐVN tuyên bố sửa chữa sai lầm trong CCRĐ. Trường Chinh mất chức Tổng Thư Kư ĐLĐ, nhưng thành Chủ Tịch Quốc Hội. Hoàng Quốc Việt, Chủ nhiệm ủy ban CCRĐ trở thành người trách nhiệm Công Đoàn trong khi Lê Văn Lương, kẻ phụ trách CĐTC, được điều về làm Chủ tịch Ũy ban Nhân Dân thành phố Hà Nội. Giai Phẩm mùa Xuân tái bản, Nhân Văn ra số 3. Nhân Văn-Giai Phẩm qui tụ được những trí thức và nhà văn hàng đầu thời ấy manh nha những ư kiến xây dựng một nền dân chủ pháp trị. Phong trào này bị chặn lại khi Hồ Chí Minh kư sắc lệnh về chế độ báo chí ngày 9-12-1956. Hai tháng sau, tại Đại Hội văn nghệ toàn quốc lần 2, Trường Chinh kêu gọi đập nát luận điệu phản động Nhân Văn – Giai Phẩm.
Năm 1958, những cố gắng đi đến hiệp thương và Tổng Tuyển Cử để thống nhất Bắc-Nam hoàn toàn vô ích. Trong Nam, Ngô Đ́nh Diệm ra luật 10/59, đặt cán bộ CS ra ngoài ṿng pháp luật, đàn áp giết chóc. Ngoài Bắc, nghị quyết bí mật 15 cho phép cán bộ CS nằm vùng đấu tranh vũ lực, song song với những biện pháp chính trị vẫn được coi là chủ yếu trong sách lược ’’chung sống ḥa b́nh’’. Đến 1960, t́nh h́nh phe những nước XHCN đă khác. ĐCSLX và ĐCS Trung Quốc có những rạn nứt quan trọng. LX vận động một cuộc hội nghị quốc tế gồm đại biểu 81 đảng, trong số đó có 70 đảng tán thành quan điểm của ĐCSLX. Lại tranh căi kịch liệt giữa hai ĐCS lớn nhất thế giới, rồi thỏa hiệp với nhau bằng một tuyên bố chung quặt quẹo. Sau hội nghị quốc tế đó th́ Phong Trào Cộng Sản Quốc Tế thực tế đă phân liệt thành hai phe - phe theo Liên Xô và phe theoTrung Quốc. Phe Liên Xô công kích phe Trung Quốc là giáo điều, bảo thủ; phe Trung Quốc đả kích phe Liên Xô là xét lại, nhụt tinh thần tiến công cách mạng, thậm chí là tay sai đế quốc và phản cách mạng. Trước đó, ở miền Bắc, ĐLĐ đẩy mạnh Cải Tạo Tư Sản trong Công Thương nghiệp, đưa toàn bộ nền kinh tế đi vào ’’ hợp tác’’. Trong t́nh thế phân liệt của Quốc Tế Cộng Sản, Trung Quốc ủng hộ giải phóng miền Nam Việt Nam bằng con đường vơ trang quân sự, đi ngược lại nguyên tắc chung sống ḥa b́nh của Liên Xô.
Ở miền Bắc, biện pháp "chuyên chính" đầu tiên là vụ án "Nhân Văn - Giai Phẩm" (NVGP) diễn ra từ cuối năm 1956 và kéo dài măi đến sau này. Trở về Hà Nội sau chiến tranh, nhiều văn nghệ sĩ, trí thức khát khao được tự do sáng tác, được sống và làm việc trong tự do dân chủ, đă cho ra những ấn phẩm như "Giai Phẩm Mùa Xuân" (1956), "Giai Phẩm Mùa Thu" tập I và tập II, "Giai Phẩm Mùa Đông" (do Hoàng Cầm, Trần Dần, Lê Đạt, Văn Cao, Sỹ Ngọc, Nguyễn Văn Tư ... ), "Trăm Hoa" (do Nguyễn Bính ), "Đất Mới" ( Bùi Quang Đoài ), "Nhân Văn" (do Phan Khôi, Nguyễn Hữu Đang, Trần Duy, Hoàng Cầm ... ) để bày tỏ những khát vọng khác với đường lối văn nghệ của đảng cầm quyền. BCT TƯ ĐLĐ đă giao cho Trường Chinh, Tố Hữu, v.v... tổ chức một cuộc đàn áp tàn bạo đối với những trí thức, văn nghệ sĩ khao khát tự do. Những ấn phẩm của họ bị tịch thu, bị cấm, báo chí bị đóng cửa. Những văn nghệ sĩ, trí thức có ít nhiều dính dáng đến NVGP đều bị vu khống, gán ghép "tội trạng", và bị tước mất tự do. Một số bị đưa về nông thôn lao động cải tạo, một số đưa ra xử án "gián điệp" rồi vào tù (Thụy An 15 năm, Nguyễn Hữu Đang 15 năm, Trần Thiếu Bảo (Minh Đức) 15 năm...). Nhiều người khác tuy không có án nhưng vẫn bị quản chế vô thời hạn, bị khai trừ ra khỏi các hội sáng tác, mất quyền được xuất bản tác phẩm, vợ con bè bạn đều bị vạ lây, phân biệt đối xử, hành hạ đủ điều. Họ là những tên tuổi như Nguyễn Mạnh Tường, Trần Đức Thảo, Đào Duy Anh, Trương Tửu, Phan Khôi, Trần Dần, Lê Đạt, Hoàng Cầm, Đặng Đ́nh Hưng....
Biện pháp "chuyên chính" thứ nh́ là quyết định của Bộ Chính Trị (BCT) dưới thời tổng bí thư Lê Duẩn với nghị quyết của Quốc hội số 49/NQ/TVQH do Trường Chinh kư ngày 20-6-1961, cho phép giam giữ các công dân vào mà không cần thủ tục tố tụng, bắt đưa đi tập trung "cải tạo" trong thời hạn 3 năm, khi hết hạn đó chính quyền có thể gia thêm hạn khác, và cứ thế kéo dài măi. Xă hội dân sự ở miền Bắc bị thủ tiêu, thay vào là một chế độ toàn trị nửa phong kiến Mao-ít, nửa Mác-Lê.
Biện pháp "chuyên chính" thứ ba có tính cách nội bộ ĐLĐVN, nhưng tác hại lại vô cùng trầm trọng đến vận mệnh cả nước. Ở đại hội 3 (tháng 8.1960), Hồ Chí Minh chính thức thành tổng bí thư, lúc đầu cố giữ cân bằng giữa hai đường lối giáo điều với Trung Quốc và xét lại với Liên Xô. Phe tán đồng đường lối của Mao trong BCT, gồm có Lê Duẩn, Lê Đức Thọ, Hoàng Văn Hoan, Nguyễn Chí Thanh, Trần Quốc Hoàn ... ngày càng lái Việt Nam vào đường lối Mao-ít. Vấn đề gay cấn nhất hồi đó là con đường thống nhất đất nước. Hội nghị lần thứ 15 của TƯ (tháng 1.1959) đă bí mật quyết định phải dùng bạo lực cách mạng, đấu tranh vơ trang, điều động quân đội và vận chuyển vơ khí vào miền Nam để tiến hành chiến tranh. Thế nhưng BCT giữ bí mật không đưa vấn đề đó ra thảo luận tại đại hội và trong nghị quyết vẫn ghi là đảng "chủ trương thống nhất Tổ quốc bằng con đường ḥa b́nh". Vào tháng 12 năm 1960, Mặt Trận Giải Phóng miền Nam được thành lập. Đến cuối năm 1963, hội nghị lần thứ 9 (khóa 3) của ĐLĐVN đă họp và ra nghị quyết đưa Việt Nam vào hẳn con đường Mao-ít. Những cán bộ không tán thành nghị quyết hội nghị TƯ lần thứ 9 (thường gọi là "nghị quyết 9") đă thấy trước thảm kịch của toàn dân trong cuộc chiến khủng khiếp sắp tới xin bảo lưu ư kiến. Biện pháp "chuyên chính" ác liệt này của tập đoàn thống trị nhằm những cán bộ đảng viên, đặc biệt là cán bộ cao cấp, trung cấp chống quan điểm của ĐCSTQ và không tán thành "nghị quyết 9". Cuộc đấu tranh giữa hai đường lối đưa đến "vụ án Xét lại - chống Đảng", thực tế bắt đầu từ năm 1962, mở rộng năm 1967, và kéo dài măi cho đến sau này. Sau lần thanh trừng này phe cánh Lê Duẩn - Lê Đức Thọ ở thế thượng phong hoàn toàn thống trị đất nước và đẩy mạnh công cuộc Giải Phóng Miền Nam. Năm 1964, chiến tranh ở miền Nam lúc một ác liệt. Để đối phó, Mỹ tham chiếm và bỏ bom oanh tạc miền Bắc, bắt đầu cuộc leo thang đuổi bắt thần chết trên cả hai miền một nướcViệt Nam bất hạnh.
Sau nghị quyết 15, Mặt Trận Giải Phóng miền Nam (MTGPMN) ra đời cuối năm 1960. Xử dụng chính sách đoàn kết, MTGPMN tập hợp được nhiều lực lượng, trong đó có những người yêu nước nhưng không theo chủ nghĩa Cộng Sản. Tổng Thống Kennedy gửi 1564 Cố Vấn Mỹ sang Việt Nam năm 61. Chính quyền Diệm-Nhu đàn áp Phật Giáo, gây căm phẫn, và mất dần sự ủng hộ của Mỹ. Số cố vấn tăng lên 15,500 năm 63, năm Diệm-Nhu bị các tướng lănh đảo chánh với sự đồng ư của Kennedy. Phó Tổng Thống Lyndon Johnson lên thay Kennedy bị ám sát ở Dallas. Trong miền Nam, t́nh h́nh chính trị mất ổn định với sự thay ngôi đổi chức của những tướng tá quân đội Việt Nam Cộng Ḥa.
Sự Kiện Vịnh Bắc Bộ, một dàn dựng của Mỹ, đánh dấu cuộc leo thang chiến tranh sau khi Johnson được tái cử năm 1964. Mỹ đánh bom miền Bắc, đổ Thủy Quân Lục Chiến vào Đà Nẵng, nâng số lính Mỹ ở miền Nam lên 125,000 người. Năm 1965, khoảng 34,000 quân miền Bắc thâm nhập đường ṃn Hồ Chí Minh, đe dọa cắt Tây Nguyên làm 2. Mỹ phát động chiến dịch Sấm Rền, bom những trục giao thông miền Bắc, mỗi ngày trung b́nh ném 200 tấn bom, dự đoán Hà Nội sẽ xin ḥa đàm. Johnson hứa giúp miền Bắc 5 tỉ đôla để xây dựng nếu ngưng chiến, nhưng Phạm Văn Đồng trả lời tức th́ rằng điều kiện tiên quyết là quân đội Mỹ phải rút khỏi Việt Nam.
Năm 1966, Nguyễn Văn Thiệu và Nguyễn Cao Kỳ khai sinh nền đệ nhị Cộng Ḥa, với sự hiện diện của gần 400,000 lính Mỹ ở miền Nam. Mỹ tiến hành ‘’chiến tranh cục bộ’’, không kích đường ṃn Hồ Chí Minh, phát động chiến dịch ‘’t́m và diệt’’, phá cơ sở làng xă, gây nên nỗi căm hận của dân chúng ở nông thôn miền Nam. Miền Bắc tổng động viên, bắn rơi 500 máy bay Mỹ. Chi phí của Mỹ vào chiến tranh là 1 tỷ đôla. Tướng Westmoreland, chỉ huy quân lực Mỹ, xin Johnson tăng viện 50,000 lính, lạc quan báo khả năng chiến thắng quân sự. Đồng minh của Mỹ cũng đổ quân vào Việt Nam (Hàn quốc, 50,000; Thái Lan, 1 trung đoàn; Phi Luật Tân, 2000 ; Úc, 7,000; Tân Tây Lan,500). Số lính Mỹ ở miền Nam lên đến 500,000 năm 1967, phần lớn là lính chấp hành nghĩa vụ quân sự. Miền Bắc khi ấy có khoảng 200,000 quân trong Nam, trang bị khí giới của Liên Xô và Trung Quốc, xây dựng một hệ thống địa đạo dày đặc, rất cơ động, kiểm soát được1/2 nông thôn. Sự hiện diện một đạo quân viễn chinh tạo ra nạn tham nhũng, đĩ điếm, x́-ke ma túy, trộm cắp.... Ở Đà Nẵng, nơi quân Mỹ lập căn cứ, Phật giáo tổ chức xuống đường biểu t́nh. Nguyễn Cao Kỳ sang Mỹ xin 750 triệu đôla viện trợ kinh tế, và đề nghị ‘’ Bắc Tiến’’. Nhưng đối với đội quân Việt Nam Cộng Ḥa nửa triệu người này, Cố vấn Mỹ nói ‘’ 80% là không mấy hiệu quả! ‘’.
Khủng hoảng bên Mỹ khơi nguồn từ Phong Trào Phản Chiến (PTPC) ngày một trầm trọng. Johnson cho ném bom vào sát Hà Nội, hy vọng áp lực để Bắc Việt tương nhượng hầu khắc phục niềm tin của nhân dân Mỹ vào một chiến thắng quân sự. Nhưng không lực Mỹ gặp sức chống trả mănh liệt của 200 trận địa pḥng không quanh Hà Nội, với 6000 cao xạ, và hỏa tiễn Sam 1, Sam 2 di chuyển bằng cả xe đạp, linh động thay đổi vị trí luôn luôn. Dân đi sơ tán, tổn thất nhân mạng không nhỏ. Có những làng toàn bộ bị chôn sống v́ hầm sập. Trong ba năm, số tử thương là 53,000, tính riêng cho mặt trận phía Nam Hà Nội.
Năm 1968, quân đội miền Bắc xâm nhập miền Nam qua đường ṃn Hồ Chí Minh ngày một đông. Số 90,000 lính vào Nam năm 67 tăng lên 150,000 năm 68, báo hiệu khả năng những trận đánh qui mô. Mỹ tung chiến dịch Trực Thăng vận. Đây là một phương t́ện cơ động có thể di chuyển 2,3 tiểu đoàn với vận tốc 150 cây số/giờ, trang bị đại liên M-62, gắn rốc-két và mang bom công phá 12,000 mét vuông. Nhưng trực thăng bị bắn rơi tất cả 5000 chiếc. Thượng Nghị Sĩ Fullbright phê phán công khai chiến tranh Việt Nam, PTPC ở Mỹ ngày một lớn mạnh trong dư luận. Đầu năm, quân miền Bắc bao vây Khê Sanh nhằm đánh lạc hướng Mỹ, bất ngờ phát động chiến dịch Tổng Công Kích và Nổi Dậy Tết Mậu Thân với một lực luợng 80,000 cả lính lẫn du kích, tấn công mọi thành phố lớn, xâm nhập ṭa Đại Sứ Mỹ ở Sài G̣n, và chiếm giữ Huế cả tháng. Tổng công kích nhưng không dẫn đến nổi dậy như đự đoán. Đợt 1 khá thành công nhưng đợt 2 và 3 trong năm 68 của chiến dịch gây những tổn thất đáng kể cho lực lượng quân sự của MTGPMN và Bắc Việt. Sau đó, với chiến dịch Phượng Hoàng, Mỹ và chính quyền Thiệu-Kỳ đă phá vỡ một cách hữu hiệu mạng lưới ‘’nằm vùng’’ khiến miền Bắc cần 2 năm mới xây dựng lại được khả năng tiến công. Tuy nhiên, cuộc Tổng công kích tạo những thắng lợi cơ bản trên mặt trận ngoại giao. Dư luận thế giới khắp nơi đồng t́nh với PTPC, lên án cuộc chiến tranh, và Johnson tuyên bố ngưng oanh tạc miền Bắc. Hội đàm giữa Mỹ và Bắc Việt ở Paris bắt đầu vào tháng 4. Tháng 11, hội nghị ‚‘‘bốn bên’’ nhóm họp, có Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa (Bắc), MTGPMN, Việt Nam Cộng Ḥa (Nam) và Mỹ. Nixon đắc cử Tổng Thống, hứa hẹn sẽ thiết lập ‚‘‘ ḥa b́nh trong danh dự’’.
Nixon tiếp tục cuộc ḥa đàm Paris, lên kế hoạch rút quân Mỹ, tổng số tử thương đă lên đến 33,000 từ đầu cuộc chiến cho đến 1969. Thay mầu da xác người, Nixon tiến hành ‘’Việt Nam hóa chiến tranh’’. Chính quyền Thiệu-Kỳ ra lệnh tổng động viên ở miền Nam. Tháng 11, vụ Thảm sát Mỹ Lai lên báo chí truyền h́nh Mỹ, PTPC tổ chức biểu t́nh lên án tính phi nhân của cuộc chiến. Đàm phán bí mật tay đôi Kissinger-Lê Đức Thọ kéo dài. Ở Hà Nội, Hồ Chí Minh từ trần, nhưng Bắc Việt không có dấu hiệu thay đổi chính sách đối với miền Nam. Nixon xua quân vào nội địa Kampuchia đánh phá liên tiếp 2 tháng những kho dự trữ khí giới và lương thực của VC. Ở Mỹ, sinh viên bị bắn chết khi biểu t́nh phản chiến ở Đaị Học Kansas : PTPC lên cao điểm. Bắc Việt đặt điều kiện tiên quyết là Mỹ phải bỏ Thiệu mới thúc đẩy cuộc đàm phán. Năm 1971, số quân Mỹ ở miền Nam c̣n 325,000 người, số thương vong tổng cộng 45,000. Quân đội Việt Nam Cộng Ḥa tiến đánh Hạ Lào trong chiến dịch Lam Sơn với sự yểm trợ của không lực Mỹ, mục đích phá hoại hệ thống hậu cần trên đường ṃn Hồ Chí Minh. Sau 4 tuần, đội quân 17,000 người đến Tchepone, nhưng không đạt được mục đích, phải rút với những tổn thất đáng kể.
Năm 1972, lực lượng Mỹ ở Việt Nam c̣n 40,000. Nixon ứng cử Tổng Thống nhiệm kỳ 2, tuyên bố ‘’ ḥa b́nh trong tầm tay’’. Quân đội miền Bắc mở mặt trận An Lộc, rồi đánh vào khu phi quân sự, chiếm Quảng Trị, giành lợi thế trước khi kư Hiệp Định Paris đă định vào tháng 11. Quân Việt Nam Cộng Ḥa phản công. Nixon đắc cử, ra lệnh tái oanh tạc miền Bắc tạo áp lực. Hà Nội bị B-52 đánh trong 12 ngày đêm vào Giáng Sinh năm 72. Trận đánh này có tên là Điện Biên trên không gây ra những thiệt hại dân sự đáng kể nhưng lại chẳng thay đổi ǵ nội dung Hiệp Định Paris, kư vào ngày 27-1-1973, kết thúc sự tham chiến của Mỹ với 50,000 lính tử vong, 300,000 thương vong, và 150 tỉ đôla chiến phí.
Trước khi rút hẳn, Nixon đổ vào miền Nam một lượng khí giới đáng kể với hy vọng quân lực Việt Nam Cộng Ḥa có thể đương đầu miền Bắc. Vụ X́-căng-đan Watergate xảy ra, Nixon không c̣n được tín nhiệm, phải từ nhiệm. Gerard Ford lên thay. Quốc Hội Mỹ cắt giảm 60% viện trợ, viễn tượng sụp đổ của miền Nam đă rơ ràng. Hà Nội dự định ‘giải phóng miền Nam’ vào năm 76, tiếp tục chuyển quân vào những vị trí chiến lược. Tháng 3 năm 75, 3 sư đoàn quân Bắc Việt bao vây Ban Mê Thuộc chống giữ bởi 4000 lính Cộng Ḥa. Một nửa lính ra hàng, Ban Mê Thuộc thất thủ. Sau đó, một cuộc phản kích chiếm lại thị trấn này thất bại. Ngày 15-3, Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh triệt thoái khỏi Pleiku và Kontum, tạo khả năng cho quân đội miền Bắc cắt miền Trung ra khỏi miền Nam. Cuộc triệt thoái vô tổ chức đến được Tuy Ḥa th́ mất 60,000 quân, tâm lư chủ bại lan ra như dịch. Từ khu phi quân sự, lực lượng miền Bắc cứ thế đi vào chiếm Huế, rồi xuống Đà Nẵng, không gặp sức kháng cự nào đáng kể. Tướng lănh chỉ huy đội quân miền Nam bỏ chạy, lính như rắn mất đầu, tán loạn. Ở Đà Nẵng, sau 32 giờ, hơn 100,000 lính thiện chiến đầu hàng. Quân đội miền Bắc dễ dàng vào giải phóng Sài G̣n, đi thật nhanh để nắm thời cơ ngàn năm một thuở. Xuân Lộc là pḥng tuyến cuối phía Bắc Sài G̣n, chống cự mănh liệt từ ngày 9-4 đến ngày 16 th́ vỡ. Ngày 21, Thiệu từ chức. Ngày 23, 100,000 quân miền Bắc chỉ cách Sài G̣n 50 cây số. Ngày 29, người Mỹ phát thanh bài hát ‘‘ Tôi mơ về một Giáng Sinh trắng ‘’, tín hiệu bỏ chạy, không có ǵ là ‘‘trong danh dự’’ như kiểu ḥa b́nh theo lời Nixon-Kissinger đă từng tuyên bố.
Ngày 30-4-1975, Dương Văn Minh kêu gọi quân đội miền Nam bỏ súng, tránh được những tổn thất vô ích ở thời điểm cuối một cuộc chiến thắng thua đă rơ. Xe tăng T-54 đâm sập cửa dinh Độc Lập là h́nh ảnh kết thúc chiến dịch Đại Thắng mùa Xuân mà Hà Nội, dự trù 2 năm, đă thực hiện trong 7 tuần lễ. Cuộc chiến ṛng ră 15 năm, gọi là cuộc chiến thần thánh chống Mỹ - cứu nước, đă cướp đi ít nhất 5 triệu nhân mạng và không biết bao nhiêu người Việt Nam thương phế.
Sau chiến tranh, lại chiến tranh, với Kampuchia ở biên giới Tây Nam. Và rồi với Trung Quốc, ở biên giới phía Bắc. Tiếp đó là thảm kịch vượt biên. Chính quyền rêu rao họ đi v́ kinh tế. Có thế, nhưng không chỉ vậy. Cải tạo tư sản trong miền Nam, rồi 2 cuộc đổi tiền, chiếm nhà chiếm đất... là những trận cướp ngày bài bản. Dẫu ngoài miệng chính sách là hoà hợp hoà giải dân tộc, nhưng chính quyền mới đưa hàng trăm ngàn người vào những trại học tập cải tạo, thực chất là bỏ tù . Đối với thế hệ con em, chính sách lư lịch khép tương lai tuổi trẻ vào mịt mù tuyệt vọng. Cuộc chiến 15 năm đầy máu và nước mắt dẫn đến thống nhất, nhưng chỉ là thống nhất lănh thổ dưới một chế độ chuyên chế. Và quả có chút cường điệu khi ghép vào cuộc chiến này bốn chữ giải phóng dân tộc. Những người được giải phóng hoảng hốt vượt biên, tạo dịp cho quyền thế móc vàng và đô-la với những chuyến đi gọi là bán chính thức. Người vượt biên, sống có nhưng chết không ít. Số tử vong trên biển được ước lượng khoảng từ 4 đến 5 trăm ngàn người.
Chỉ 10 năm sau ‘‘giải phóng’’, đất nước đă kiệt quệ. Cuộc Đổi Mới năm 1986 là một bức bách của hiện thực. Chưa được bao lâu, cục diện chính trị ở Việt Nam lại co rút lại như lên một cơn động kinh sau vụ Thiên An Môn bên Trung Quốc. Bức tường Bá Linh sụp xuống, thế giới không đóng băng trong chiến tranh lạnh như xưa. Đầu thập niên 90, Liên Xô rồi toàn bộ những nước XHCN Đông Âu ră ra như một cơn hoang tưởng. Việt Nam ‘‘anh hùng’’ chênh vênh trên vực bờ ư thức hệ, nh́n về Trung Quốc ở phương Bắc, víu vào đó như tấm ván cuối cùng trên mặt biển sóng gió nhưng với nỗi kinh hoàng một ngàn năm Bắc thuộc trong lịch sử .