Ky 21

Ngưỡng cửa kỷ 21, bực thềm thiên niên 3 :

vấp , ngă và đứng dậy…

Trong kỷ 21 của thiên niên 3, ranh giới quốc gia trên hoàn cầu sẽ mờ nhạt dần. Đối với các dân tộc và sắc tộc, có hai khả năng chính : hoặc là họ sẽ giao thoa, cộng hưởng trong một tiến tŕnh đồng qui trên cả hai phương diện kinh tế và văn hóa để rồi lịch sử cuối cùng cáo chung theo đúng như qui luật thứ 2 của Nhiệt động học; hoặc là họ sẽ xung đột với nhau trên b́nh diện những giá trị cơ bản chuyên chở cấu tính thể hiện sự tồn sinh và bản sắc của những dân tộc và sắc tộc ấy. Trong cả hai khả năng trên, yếu tố văn hoá mang tính quyết định sinh tử cho mỗi dân tộc.

Ngôn ngữ -văn tự là một trong những h́nh thức thể hiện của văn hóa. Số lượng và phẩm chất của văn tự  cân đo bề dầy và sức nặng một nền văn hóa. Thái độ xă hội đối với văn tự có khả năng thông báo viễn tượng  một nền văn hóa.

Người Việt chúng ta máy móc lập đi lập lại rằng có 4000 năm văn hiến. Chúng ta chưa rà soát văn tự để biết chúng ta có ǵ, cái ǵ là thực sự của chúng ta, cái ǵ chúng ta vay mượn, và vay mượn ǵ của những ai…

Chỉ trên dưới hai trăm năm, chúng ta không c̣n rơ ai là tác giả Văn tế thập loại chúng sinh, ai là tác giả Hoa Tiên ? Nguyễn Du ? Nguyễn huy Tự ? Hay là ai khác ? Chúng ta chép miệng, do loạn lạc chiến tranh mà thất lạc cả !  Nhưng chỗ nào không có chiến tranh ? Cứ chỉ đổ cho loạn lạc để biện minh có lẽ không ổn, không hoàn toàn thuyết phục.

Hai mươi lăm năm vừa qua, chúng ta tương đối yên ổn. Trong nước, vào thời điểm “cởi trói tư duy”, th́nh ĺnh chúng ta có được dăm truyện ngắn, một hai tiểu thuyết, vài bài thơ hay[1] : toàn là dạng sao buổi sớm, những v́ sao hiếm hoi  nhấp nháy khi sợi dây buộc cổ được nới ra chút ít. Nhưng vấn đề không phải là số lượng. Vấn đề nghiêm trọng là cách nh́n cái tương quan giữa quyền lực chính trị và văn hóa. Phải nhận là quyền lực có chót trói nên mới phải cởi trói. Tuy cởi, nhưng có chừng mực, và phải biết buộc ở đâu, cởi chỗ nào. Rồi mười năm qua, sách ít nhưng báo th́ nhiều: bây giờ chúng ta có đủ mọi h́nh thức phồn vinh giả tạo, văn hoá măi dâm trục lợi. Để giữ quyền lực, đồi trụy tinh thần bỗng ngày một ngày hai thành quốc sách nhằm “ổn định ” trật tự xă hội ! Những vị quyền uy đạo mạo than “ phú quí tất sinh lễ nghĩa, chúng ta c̣n nghèo… ”.  

    Phú quí và lễ nghĩa, cái nào sinh cái nào? Có phải là cứ giầu rồi là có văn hóa không? Giầu tất nhiên tăng khả năng có văn hoá, nhưng có được hay không th́ lại c̣n tùy. 

    Người Việt chúng ta ở hải ngoại nay đủ khả năng mua xe hơi Mỹ hạng De Luxe, nhà cửa khang trang, quần áo có mác nhập từ Anh, từ ư, bôi nước hoa Pháp, xức dầu thơm Đức. Trong nhà, bộ ghế bằng da nhập từ Thụy Điển trị giá 15000 đô, trên tường treo bức sơn mài mua rẻ trong chuyến về thăm đất nước trị giá 100 đô, hoặc một tấm các-tông sao chép những bức danh họa Âu châu trường phái ẤnTượng đẹp nhưng chỉ có 20 đô, 30 đô, lên khung th́ tốn thêm 300 đô trông cho bề thế. Đừng treo bên cạnh lịch Tam Tông Miếu nhé, vợ chồng âu yếm dặn nhau, tân ra tân cổ ra cổ, có giao duyên th́ …ở chỗ khác chứ đừng trong sa-lông !

    Người Việt chúng ta xem phim bộ ái t́nh kiểu Hong Kong, đọc báo biếu không, sang lại băng nhạc và video cho bạn bè quen biết, đọc “cọp” sách của nhau, hoặc chẳng đọc ǵ ngoài ba câu chuyện thời sự để tán gẫu cho có vẻ ưu thời mẫn thế, và khéo léo khen chê lẫn nhau, đại khái th́ cũng chỉ loanh quanh  trong cái ṿng xe, nhà, trang sức, lương bổng, lợi tức…Rồi họ hỉ hả rủ nhau đi ăn phở.

    Hai hay ba tô phở là trị giá một quyển sách. Nhưng hàng phở th́ có khả năng sống, nhà xuất bản sách th́ chỉ có chết. Các tác giả h́ hục viết, rồi bỏ tiền túi mang in, ra mắt sách, biếu bạn bè, và thường là được trả lại trước mặt bằng dăm câu xă giao che dấu đi sự dửng dưng, thậm chí sau lưng đôi khi là những dè biủ kiểu “ kiếm danh cũng có cái giá của nó ….”. Một cái áo da hạng trung là trị giá một bức tranh cỡ khổ 50x80. Hoạ sĩ cặm cụi hàng tuần, đem trưng, xác suất bán được chẳng quá 1%, và người mua rất lịch sự xưng là người quen, quen mới mua, mua để ủng hộ…Chua xót như thế đó cho những kẻ vướng vào cái nghiệp cầm bút cầm cọ !

    Nhưng ghê gớm nhất vẫn là sự kiện những người Việt ở hải ngoại chỉ đến thế hệ thứ hai là đă ú ớ nói tiếng Việt. Hai mươi năm nưă là đến thế hệ thứ ba. Cái cộng đồng trên dưới ba triệu người kia sẽ thành cái ǵ ?  Xin miễn bàn thêm…Chỉ nhắc, có “phú quí” nhưng chắc đâu giữ nổi văn hóa, đừng nói ǵ đến phát triển !

    Mất văn hóa, c̣n ǵ gọi là đất nước? Văn hóa ẹ uột, cái ǵ gọi là đất nước trong thiên niên sắp tới ?  Ăn phở, húp nước mắm, chấm ḷng luộc vào mắm tôm - có nhiều người cười bảo thế cũng là văn hoá. Dĩ nhiên. Xin nhắc, ăn chỉ nội nhật một hai ngày là tiêu hoá. Nếu không, quí vị phải t́m thuốc chảy. Nhưng không có lẽ chỉ ăn và tiêu hóa mà yên tâm thôi sao? Quan hoài đến những yếu tố dài lâu và rộng khắp, tôi cho là vấn đề lớn nhất cuả chúng ta, cả trong và ngoài nước, là vấn đề văn hoá ở ngưỡng cửa kỷ 21 của thiên niên thứ 3. Gọi những người đóng góp vào văn hoá qua văn tự là những người cầm bút cho gọn, tôi trân trọng gửi họ sự cảm thông và những chia xẻ cốt nhục.

 Những người cầm bút có vấp, có ngă, nhưng họ sẽ đứng dậy và tiếp tục làm công việc của họ trong cô đơn. Đó là cách tồn tại duy nhất của họ. Đó cũng là hy vọng của tất cả chúng ta. Và cứ giả dụ chúng ta thay đổi cách chúng ta nh́n họ để tạo thêm điều kiện cho họ làm việc…

Nam Dao

18-11-1999



[1] Phải kể Nguyễn huy Thiệp, Phạm thị Hoài, Dương thu Hương, Nhật Tuấn, Nguyễn Duy.