nam dao

(trích tiểu thuyết Trăng Nguyên Sơ)

cõi tình

 

 

Đêm hôm đó, tôi nằm nghe anh con trai Mế ngáy, ngắm trăng chờ sáng trong gian bên giành cho đàn ông. Cạnh bếp là gian đàn bà, Ban Mai chuyện trò gì với Mế đến khuya, thỉnh thoảng lại rúc rích cười. Câu Ban Mai nói, thế anh là người hạnh phúc rồi, lại vang lên như tra hỏi. Tôi có công việc đúng nghiệp vụ chuyên môn. Ăn, tôi đủ. Mặc, cũng đủ. Con hai đứa, chẳng thể bảo là hư, học mãi rồi cũng tốt nghiệp đại học, và rồi chúng sẽ có công ăn việc làm trong một thế giới văn minh phát triển. Vợ tôi, không xấu không đẹp, không khôn không dại, chẳng đòi hỏi gì, sống hiền lành yên phận. Tóm lại, sau một thời ấu thơ có chút mùi tủi nhục côi cút, đời sống tôi an bình đều đặn trôi như bốn mùa một năm. Ai cũng bảo tôi thế là hạnh phúc, nhưng tại sao khi nói với Ban Mai, tôi lại nói biết thế nào là hạnh phúc? Thế còn Ban Mai. Tôi tự trách, sao tôi không đủ quan tâm để hỏi câu Ban Mai hỏi tôi, em có hạnh phúc không? Dang dở như Ban Mai, chắc nàng sẽ bảo không! Có phải vì sợ phải nghe thế nên tôi không can đảm hỏi chăng?

Đêm cứ dài ra với những tồn nghi không giải đáp. May mà gà gáy sáng, một con, rồi sau đó,  tiếng gà cất lên từ đầu đến cuối bản. Chúng tôi lục đục uống nước chè, ăn vội nắm xôi, lên đường đi về Mường Thàng khi nắng vừa le lói sau những chòm cọ đâm nghiêng. Ban Mai ngồi lên Honda, bảo sẽ đi hai giờ xe, sau phải cuốc bộ chừng một giờ. Nàng hớn hở : ‘’  Anh gặp bà em với cu Tít, chắc vui lắm! ‘’. Không rõ vui thế nào, tôi gục gặc, nhớ mình chẳng mang gì quà cáp, nhắc Ban Mai. ‘’ Ôi giào, đừng vẽ chuyện. Mình đi đột xuất mà anh!’’, Ban Mai tươi cười, rồ máy.

Gửi xe ở một nhà quen, Ban Mai dẫn tôi men theo con đường dốc ôm vòng những nương ruộng nằm lưng chừng một giãy đồi. Lát sau, chúng tôi băng ngang một con suối, vào khu rừng cây cối râm rạp nhưng cằn cỗi. Chỉ tay về phía trước, nàng bảo : ‘’ Sau kia là ta đến nơi…Hạn hán nên rừng không có vắt chứ mưa thì đi đầu trần thế này chẳng được! ‘’. Bước sau Ban Mai, tôi len lỏi, thầm nhủ chắc chắn sẽ lạc nếu phải đi một mình. Quanh co mãi, cây cối thưa dần,  Ban Mai tíu tít ‘’ Sắp đến rồi! Chưa gì em đã nghe tiếng cu Tít gọi! ‘’. Nàng ngước lên, cặp mắt mở to, lóng lánh như sắp khóc. Ra đến bìa rừng, Ban Mai đi như chạy. Khói bếp xanh ngắt ở đâu bay lơ lửng. Lưng đồi bên kia, những mái nhà sàn thấp thoáng. Ban Mai miệng giục, chân thoăn thoắt, mặc tôi  tuột lại phía sau. Chúng tôi băng ngang chân những nương lúa vàng vọt. Ban Mai vẫy  những người  làm rẫy, áo chàm bạc thếch dưới ánh nắng gay gắt, miệng reo những câu tôi không rõ nghĩa. Con đường vào bản hiện ra, cũng ngoằn ngoèo như đường vào bản Mỗ, nhưng xơ xác vắng vẻ hơn. Đây, vùng sâu và xa, không nhắc thì xã hội ngoài kia đang ồn ào hiện đại hóa sẽ quên liền, làm sao bì được với những  nơi gần đô thị được.  

Chạy thẳng vào một căn nhà chìa ra trong đám cây cỏ thiếu nước xác xơ, Ban Mai cất tiếng réo gọi. Cửa mở. Một cụ bà tóc bạc trắng thò đầu khỏi tấm liếp đóng hờ. Ban Mai lên thang  trong khi cu Tít ra cửa, nhẩy cẫng lên, gọi mẹ. Khom người, Ban Mai đưa hai tay ra, thằng bé lao vào lòng chúi đầu áp mặt, bẽn lẽn nhìn tôi cười. Cụ bà ngước lên, ánh mắt dò hỏi, tay mở rộng cửa ra dấu mời vào.

*

    Sau cơm trưa, cu Tít đòi mẹ đưa ra bãi trống cạnh một con thác cạn nước, nơi Mường sẽ làm lễ cầu mưa đêm trăng tròn. Nó bẻm mép, mắt đen nháy, chạy nhẩy như một con hoẵng. Vắng nhà lâu ngày, Ban Mai chiều con, không bắt nó ngủ trưa như lệ thường. Không muốn mẹ con Ban Mai mất những phút tư riêng, tôi xin ở lại, lấy cớ mệt. Cụ bà dặn Ban Mai gì đó, rồi rót nước mời tôi. Không ngờ cụ nói tiếng Kinh thật là sõi, hỏi tôi mới biết cụ và cụ ông đã sống một  thời gian ở Hà Nội đầu những năm 60, khi cả hai giúp Viện Dân Tộc học trong những nghiên cứu về dân tộc Mường. Cụ bà vào gian cạnh lôi ra hàng chục cạp váy sặc sỡ trên thêu những hoa văn tinh tế. Cụ nhắc ông Từ Chi, một nhà nghiên cứu trở thành bạn của cụ ông, bảo người Kinh thì chỉ có ông ấy mới thực sự hiểu người Mường. Hàng năm, ông ta lên ở trên này có khi cả tháng, lặn lội khắp nơi sưu tầm những truyện cổ truyền khẩu mai một dần trong trí nhớ một tập thể ngày càng mất đi nguồn cội. Nhớ lời  kể cụ thuộc Kiều bản tiếng Mường, tôi xin nghe. Mắt sáng lên, cụ bảo chính cụ ông và ông Từ Chi đã cùng nhau làm công việc dịch Kiều. Nhắm mắt trầm tư, lát sau cụ đọc một đoạn, tay gõ nhẹ xuống mặt sàn nhịp cho những câu lục bát vần điệu luyến láy không phải chỉ dân tộc Kinh mới có. Cụ lập đi lập lại, bằng tiếng Mường,  Bắt phong trần phải phong trần. Cho thanh cao mới  được phần thanh cao.  Thình lình, cụ bảo nay chẳng phải thế, làm gì còn có nơi cho thanh cao  mà hòng. Đầy trời đầy đất, chỗ nào cũng gió, cũng cát, cũng bụi.

    Nâng những mảnh hoa văn Mường lên, tôi đột nhiên biết mình đã từng nhìn như thế từ một quá khứ hun hút vô định, mặc nước mắt bỗng ứa ra chảy thành vệt. Cụ bà ngạc nhiên, hỏi cớ sự. Như trong mơ, tôi kể tôi côi cút, tôi lớn lên và tồn tại thế nào với cái huyễn tưởng mình họ Bạch gốc Mường vùng Cao Lạng. Cụ bà hấp háy nhìn tôi, buông thõng : ‘’ …thì nghĩ mình thế nào, mình là thế ấy, cứ sống như vậy chứ bận tâm làm gì! ‘’. Đứng lên, tôi bước lại xem bẩy chiếc cồng to nhỏ khác nhau treo trên tường, tay vuốt ve những dấu trạm trổ trên mặt cồng sắc lạnh. Cụ bà đến gần, bảo :  ‘’ Cồng này cổ lắm, từ đời nào chẳng biết. Có cái đánh để rước tổ tiên về, cái để gọi hồn người mới chết, cái báo con trâu đi lạc… Nhớ đừng úp mặt cồng xuống, úp là chết. Chỉ cồng sống mới gọi được người chết về! ‘’. Kề tai vào, tay chạm nhẹ, tôi nghe tiếng ngân nga văng vẳng như tiếng gọi từ cõi tít mù tiềm thức, lung linh đong đưa theo vệt nắng chiếu qua song cửa. Bất giác, tôi mỉm cười, lòng nhẹ tênh tênh.

    Chiều hôm đó, trong bữa cơm cụ bà nói gì với Ban Mai mà nàng reo lên : ‘’  thế em gọi anh bằng Bạch công tử nhé ! Người Mường nhà em ăn cốt tươi, chơi cốt thật, anh ạ! ‘’. Cu Tít ôm con mèo đen chuyện trò như nói với người, thỉnh thoảng lại khúc khích cười. Nó bắt mẹ đút cho nó ăn, rồi vào ôm thì nó mới chịu đi ngủ. Khêu bấc đèn dầu cho to lên, Ban Mai đưa con vào gian nhà bên trái. Cụ bà hơi mệt, cũng đi nm. Một mình, tôi ngắm ánh trăng trên những tàu lá cọ chập chờn lay trong gió, thiếp đi lúc nào chẳng biết, giật mình khi Ban Mai đến lay tôi, dịu dàng bảo: ’’Anh  đi nằm cho khoẻ, mai lễ cầu mưa kéo cho đến hết đêm mới xong ‘’. Nửa mê nửa tỉnh, tôi nắm lấy tay Ban Mai. Nàng để yên, một lúc sau mới nhẹ nhàng rút ra, mắt đọng mầu xanh của ánh trăng huyền diệu. Còn tôi, tôi bỗng thấy lòng mình êm đềm như dòng suối lượn quanh Ban Mai. Dẫu trong một ngày hạn, dòng suối có thể cạn, nhưng hy vọng hồi sinh thì không. Đêm mai, tôi sẽ thức trắng và cầu mưa, như mọi người. 

*

    Đến trưa, người ở những bản xa đã về tụ tập ở Mường Thàng, nơi Pộ Mo sẽ làm lễ cầu mưa.  Họ tươi tắn chào hỏi nhau. Những cụ già tay chống gậy, răng đen, nhai trầu mép đỏ thắm nhếch lên như cười.  Những cô con gái, đầu quấn khăn trắng, trong là áo báng mầu đen cao đến cổ, đầu váy nổi lên giữa hai vạt áo pắn ngắn ngang lưng. Áo pắn sẻ đôi, kín đáo khoe một vạt hoa văn sặc sỡ quấn quanh phần dưới ngực, thêu bằng chỉ ngũ sắc những chú hươu sao và những con cá chép lượn lờ cạnh nhau. Những chàng trai, quần ống rộng, khăn thắt bụng, áo lụa vàng phanh ngực, cổ choàng  khăn tím than, lưng giắt dao quắm, có kẻ  khoác áo chùng đen dài đến gối. Họ thỉnh thoảng cất giọng hò lên trêu đám con gái. Đám này chúi vào nhau, cười ríu rít như những con chim rừng rỉa cánh trên những tàn cây khô nắng.

    Cụ bà vịn tay tôi, gặp ai cũng nói một câu, miệng cười móm mém. Ban Mai bảo : ‘’ Bà ngoại giới thiệu anh là khách đấy, Bạch công tử ạ!’’. Thằng cu Tít choi  choi như một con hoẵng, í ới gọi bạn rồi chạy biến đi. Vào khoảnh giữa một vạt đất được dọn sạch, cồng và chiêng treo quanh một chiếc trống mầu mun đỏ. Ban Mai thì thào :  ‘’ Trống đồng đấy, cổ lắm, cổ đến chẳng ai biết tuổi, chỉ  mang ra làm lễ trong những chuyện sống mái của Mường. Lần trước là khi Mỹ dội bom, lâu lắm rồi… ‘’.

    Chúng tôi bước đến chào Pộ Mo. Đó là một cụ già tóc bạc phơ, cổ cuốn khăn vàng, tròng mắt đục nhưng căng ra như trợn lên. Nghe cụ bà nói, Pộ gật gù, đáp. Ban Mai dịch : ‘’  Pộ bảo họ Bạch thì là họ quan lang, còn Pộ vốn dòng Âu, họ Bùi, làm phụ đạo cho quan hàng chục đời rồi ‘’. Pộ khom người, nắm lấy tay tôi, lắc lắc. Phải nói thật, tôi ngượng đến chín người, chẳng lẽ lại nói cái họ Bạch của tôi chỉ là do tôi hoang tưởng. Nhưng chẳng biết Pộ nói gì mà dăm cụ ông cao tuổi đến chào tôi, nét mặt thân mật, cười vồn vã.

    Giữa trưa, đám thanh niên giong một con trâu đến buộc vào cái cột đóng cạnh dàn chiêng trống. Tiếng hàng chục cái khèn nổi lên. Rồi tiếng cồng âm vang chuyển hồn người vào rừng núi. Con trâu đủng đỉnh nghếch mõm nhìn trời, đuôi phe phẩy đuổi ruồi muỗi, chân lâu lâu lại cào vào mặt đất trơ trụi cỏ.  Ba  thanh niên cầm những chiếc dùi bọc vải ra đứng quanh chiếc trống cổ. Pộ Mo ôm một bó nhang đi quanh, tay vẽ những vòng ngoằn nghoèo, nhang gặp gió cháy đỏ, chói lên, rồi lại tàn. Cứ thế. Tiếng trống lúc một dồn dập, điểm vào là cồng, chiêng, và tiếng khèn  rền rĩ. Đi vòng cả giờ đồng hồ, Pộ lúc một chậm, gần như sắp kiệt sức. Con trâu bỗng thở phì phì, giãi trắng xoá chảy dòng dòng. Gió ơi, gió lên. Gió ơi, gió . Gió đến, thổi để thế gian này còn hy vọng. Ban Mai ứa nước mắt, kêu nho nhỏ, thanh âm hòa vào tiếng chiêng, tiếng trống, tiếng cồng. Gần như mụ mẫm, tôi nắm chặt lấy tay Ban Mai, và không hiểu động lực nào thôi thúc, tôi gào lên một thứ ngôn ngữ tôi không hiểu, không biết, nguồn cội đến từ bản năng một con  thú cùng đường. Khi đó, tôi mơ hồ cảm thấy gió, gió lên, gió phần phật. Tiếng người thất thanh. Mừng rỡ. Gió thốc vào, xoay một vòng, mát rượi. Pộ giơ  bó nhang lên trời, mắt trừng trừng nhìn, hô ba tiếng. Bó nhang phừng phực bốc lửa, cháy có ngọn. Dân Mường ồ lên, rồi im lặng. Tiếng chiêng trống bằn bặt. Khi không có gì ngoài tiếng gió, Pộ Mo cất giọng, run  run, kéo những thanh âm dài ra tưởng không bao giờ đứt đoạn.

*

Ban Mai thì thào vào tai tôi :

‘’ Pộ hát tang ca   roóng mo  ‘’tẹ tat-tẹ đạc; con chu-kẹo lọi; toọc-moong’’,  người Kinh gọi cho gọn là Đẻ Đất-Đẻ Nước.  Trong những  dịp lễ hội lớn, người Mường nghe Pộ hát để tưởng nhớ đến ba tầng bốn thế giới gốc gác của mình. Phần đầu, là truyền thuyết sinh thành…Thuở trời tách khỏi đất, vũ trụ mới ra đời, Mường Trời được đặt dưới sự cai quản của Bua K’loi , người Kinh gọi là  vua Trời. Vua có Thần Sét phụ tá, nàng A Tăng giúp việc. Dưới đất, tức Mường Pưa, có ba anh em là Tá Tài, Tá Cần và nàng Yạ Kịt. Người anh cả Tá Tài chưa hoàn thiện được Mường Pưa thì xảy ra một trận Đại Hồng Thủy. Chỉ còn Tá Cần và Yạ Kịt, cặp trai gái này không cưỡng lại nổi bản năng, gian díu ăn nằm như vợ chồng. Vua Trời giận lắm, kết họ tội loạn luân, phái Thần Sét và nàng A Tăng xuống với nhiệm vụ là đánh sét giết hai đứa dâm loạn. Nàng A Tăng lội suối đi trước, Thần Sét theo sau, và Thần thấy cái đẹp của thân thể A Tăng nhịp nhàng theo độ uốn lượn núi đồi. Cái đẹp ấy khiến Thần thở dài, trầm ngâm, lòng day dứt. Qua bên kia bờ suối, thấy Thần buồn bã, nàng A Tăng hỏi. Thần thực tình nói lòng mình, và kêu, chẳng lẽ vì cái đẹp mà phải tội chết sao. A Tăng hiểu, và đồng ý tha chết cho cặp nhân tình, sét đánh chỉ đánh vào cây xoan đầu bản và bậu khung cửa sổ. Vua Trời bị lừa, không toàn năng như Thượng Đế. Và Thần Sét, rất người, chối cái trách vụ làm thần. Còn nàng A Tăng, nàng đúng là một người đàn bà, dẫu trên trời hay dưới đất cũng vậy !’’.

Nhìn Ban Mai, tôi định nói Ban Mai ơi, em chính là A Tăng của anh, nhưng kịp mím môi, chỉ bảo : ‘’  Tôi cũng như Thần Sét…’’. Ngửng lên, tôi thấy Ban Mai cười với ánh mắt tinh quái hồ nghi. Tôi đỏ mặt im lặng, giả lắng tai nghe.  Phần sau Đẻ Đất-Đẻ Nước, là lễ gọi hồn. Chẳng hiểu gì, tôi chỉ nghe tiếng rầu rĩ não ruột:

Pa hôn pải plái on tứa, on kai, no tì vên kung pô kung mê, ăn kơm ăn ka.
Pô ơi kết bô ta la no pò, thân hò ăn no ở no pô ơi
[1] !

   Rồi lễ đâm trâu. Hàng chục thanh niên quây quanh con trâu với những cọc tre già vót nhọn. Tiếng chiêng tiếng cồng lại nổi lên. Hàng ngoài, thanh thiếu nữ  Mường xếp vòng tròn, miệng hát, tay vung lên đánh nhịp, rồi nắm lấy nhau nhẩy cứ ba bước một, xoay quanh, tụ vào rồi tản ra. Khi bóng chiều lừ lừ nhuộm đỏ đầu những tàn cây, trai gái mang củi đến chất làm thành một chiếc tháp cao quá đầu. Pộ Mo giơ tay đợi mọi người im lặng, cất tiếng ê a, giọng nhừa nhựa quánh sệt. Các vị phụ lão cao niên đứng dậy, và khi đó, tiếng rung chuông thình lình cất lên. Đám thanh niên hú dài, đồng loạt lao những ngọn tre vót nhọn vào mình con trâu. Máu phọt lên có vòi. Con trâu đau đớn nhẩy cẫng lên, sợi thừng buộc nó trì xuống. Nó oằn mình xoay tròn, hồng hộc rống rít, chân đạp cồm cộp xuống đất. Một người trung niên trần trùng trục ở đâu nhô ra, hai tay cầm một ngọn thương sáng loang loáng.  Nhắm lưng trâu đâm, ông ta cong người nhấn mũi thương xuống, bắp thịt vai nổi cuồn cuộn. Con trâu khuỵu chân phủ phục, thở phì phì, giãi rớt phòi ra trắng mõm. Bất thình lình, ông ta  rút ngọn thương ra, máu òng ọc chảy, và hai thanh niên nhẩy vào đưa nồi ra hứng.  Người ta mổ trâu làm thịt. Các bà lăng xăng bắc những cái nồi to cỡ những chiếc thấu đặt lên củi đã cháy thành than. Các ông khoa dao, tay thoăn thoắt mổ bụng, lạng thịt đùi thịt vai. Trẻ con la hét ỏm tỏi, đuổi nhau chạy khắp nơi. Cứ thế, cho đến khi ánh dương lụi dần, ráng hồng phớt lên đỉnh những tàn cây chồi lung lay trong gió, chim chóc xào xạc bay về tổ.

Sau ba tiếng trống đồng ầm ì, giàn khèn lại cất lên. Và lại chiêng, lại cồng. Và tiếng người đồng thanh lập đi lập lại:

Ăn za khoê nói za lứa
Tê co kwi sa ma đượi
[2]

Ở Mường Pưa, nơi Thần Sét thôi là thần, nơi nàng A Tăng động lòng trần, và vua K’loi, trước tình yêu giữa những con người, cũng mất hết quyền năng. Khi đó, vua chỉ còn tha thứ, khiến cho mưa thuận gió hòa để lúa gạo ê hề cho những con người có thể sống để yêu nhau.  Người gọi vía lúa tiếng vang lên chuyển qua vách núi,  từ đời này đến đời kia, cứ như thế vượt  mọi mốc thời gian, làm chứng cho sự huyền diệu vô cùng đã sinh thành ra sự sống: 

Plái ló ơi vên tun vên nhà ma ở [3]!
 
Plái ló ơi vên tun vên nhà ma ở ! Plái ló ơi vên tun vên nhà ma ở !

    Quanh đống lửa cháy có ngọn, những vò rượu cần được mang ra để la liệt trên mặt đất. Đám trẻ tiếp tục nhẩy múa theo tiếng cồng đánh lên đệm cho giàn sáo và nhị xâu chuỗi những thanh âm thành lời van xin của rừng, của núi, của nương ruộng khô cằn nứt nẻ những vệt chân ó. Trăng ló ra khỏi đám mây trắng rám bạc trải lên thế gian một màu xanh trong suốt. Tiếng hò tiếng hát vang lừng. Sau lễ, đến hội. Từng đám năm sáu người quây quanh một vò rượu cần, đĩa thịt trâu luộc, bát canh măng rừng, nồi rau đồ có cà rừng, hoa chuối, hoa đu đủ, lá sắn củ …và một thồi cơm  nếp.  Ban Mai chìa cho tôi thanh trúc cắm vào vò rượu. Tôi uống. Rượu mát, không nồng, thấm vào những tế bào lưỡi, trôi xuống cổ ngọt ngào.  Ban Mai đùa: ‘’ Bạch công tử thấy rượu Mường nhà em thế nào? ‘’. Tôi khen ngon, bảo uống cứ như uống nước ngọt, chẳng thấy hơi men, làm sao say được! Ban Mai chỉ cười. Khi rượu cạn, người ta  đổ tiếp nước suối vào vò. Ban Mai bảo: ‘’ Anh áp tai vào nghe rượu hát ‘’. Quả thế, có tiếng bọt vỡ lục bục trong vò. Rồi tiếng rượu reo,  âm vang li ti vẳng lại nghe xa tít tắp.

    Lửa nổ tí tách bắt có ngọn lem lém. Trống chiêng tiếp tục bập bùng. Trăng đã lên gần đỉnh đầu soi cho dăm con vạc ăn sương bay ngang, tiếng kêu như thúc giục đêm về. Những vò rượu cần vơi rồi đầy, men rượu bốc đến tầng mây cao nhất mắt còn nhìn thấy được. Bọn con trai túm tụm lại, cười cợt, cất tiếng hát:

             Thương noồng em hỡi

             Thương hoỡi ũn à

             Chớ để quả còn bên anh

             Nó rơi xuống đất mà mất xống đẹp áo chùng

             Chớ để quả còn anh tung

             Nó rơi xuống đất mà mất tênh xanh áo pắn…

Bọn con gái rúc rích, rồi đồng thanh véo von:

        Thương noồng anh hoỡi

        Thương hoỡi anh à

        Mất xống mặc lòng mất xống

        Lột áo mặc lòng lột áo

        Cứ chơi lục lạo trong vòng ngực em

        Chớ đem vóc ngọc mình ngà chưng ra mà hổ chúng bạn…

Bọn con trai kéo tôi đứng lên. Chập choạng, tôi nhẩy theo bước chân chúng, chúi người ngã khi nào chẳng biết, nhưng lại lồm cồm bò dậy, miệng cũng í á …thương noồng em hoỡi. Với taylấy ống, tôi lại hút rượu nuốt ừng ực, rượu ngọt, tôi cứ thế, cứ thế như chưa bao giờ là tôi thế cả. Gỡ phăng mọi sợi dây vô hình trói tôi vào  một cái tôi không thật, cái tôi  sống  ở hải ngoại với một thứ công ăn việc làm đòi hỏi quần áo trịnh trọng cà-vạt vét-tông, tôi cởi áo ra quăng lên trời, hét…thương hoỡi ún à,  tay chỉ chiếc sơ-mi  rơi xuống ngu ngơ kêu nó rơi xuống đất. Cùng mấy đứa con gái, Ban Mai nhập bọn, nắm tay tôi nhẩy vòng vòng. Đứa con gái sau lưng tôi  chỉ độ mười sáu. Nó cũng say, ngửa mặt cười, miệng lộ một chiếc răng nanh bít bạc, lóng lánh mê hoặc. Một tay ôm eo Ban Mai, tay kia tôi quàng ngang lưng nó. Cúi xuống, nó cắn vào tay tôi, nhay nhay, mềm ướt. Chớ để quả còn rơi xuống đất, ún à…Hãy lục lạo trong vòng ngực em, ún à… Dưới ánh lửa hồng, những giọt mồ hôi trên mép Ban Mai lóng lánh. Chao ôi, tôi lại khát, áp môi vào nhưng Ban Mai khẽ đẩy tôi ra. Chớ đem vóc ngọc…chưng ra…Đứa con gái ngã chúi vào bụi bờ. Tôi cũng ngã, kéo Ban Mai ngã theo. Không biết nằm đè lên ai, tai tôi nghe quanh đây tiếng rên của đàn bà trong ngọn triều khoái lạc đang nhận chìm hiện thực vào một giấc mơ địa đàng nguyên thủy. Ôi, cái địa đàng này con người có thể tạo ra được ngay bây giờ đấy chứ. Tạo được, khi người ta  rộng lượng đến với nhau. Cho nhau. Không dè sẻn giữ gìn riêng tư chỉ vì mình. Không kẹp chân khép háng thóp bụng ghim mớ ước lệ đạo đức vào làm lá chắn ngăn khả năng đến được sự thăng hoa tột cùng của phận người qua nhục cảm thân xác. Tôi tan ra. Tôi hòa vào tiếng thở gấp, tiếng kêu trời. Tôi dập dềnh lên xuống như cơn triều dâng rồi rút trong một khoảng thời gian không đi đâu không đến đâu, mọi hẹn hò với tương lai rỗng tuênh vô nghĩa. Tôi tưới vào con người cứ nấc lên mỗi lần tôi thúc vào cống hiến như tôi  tưới vào cuộc sống này tất cả sinh lực, như trời đổ mưa, mưa độ lượng, mưa chan hoà, mưa hối hả cho nhân gian này tươi xanh trở lại.

*

    Tỉnh dậy, tôi cố gắng mở mắt. Trời mầu mực nhạt, trăng đã xế về cuối chòm cây đung đưa trong tầm mắt. Chỉ còn tiếng củi thi thoảng tí tách, nhả một làn khói mỏng trắng đục lửng lơ. Gió lặng. Không khí khô ran, và cứ chốc chốc, tiếng khèn đơn côi đâu đó vẳng lại than vãn. Gom  mảng ý thức bập bềnh trôi không định hướng, tôi cố tìm một  tụ điểm nào khác với trí nhớ những  phút hoan lạc còn đọng lại trong cơ thể. Cái mùi tôi hít thở trong giây phút chỉ thân xác mới thật tồn tại có phải là mùi tôi ngửi khi ngồi sau Ban Mai trên chiếc Honda ? Và những câu nói của  người  đàn bà hai tay bíu chặt vào mông tôi mà tôi không  hiểu nói gì ? Loay hoay, tôi như lạc đường, quẩn quanh trên những lối vòng vèo trôn ốc của một màng nhện giăng đầy mê lộ. Ngồi lên, tôi đưa mắt nhìn quanh. Bên đống củi nay nhấp nháy thoi thóp, Ban Mai ngồi, cạnh là Pộ Mo, im lìm như hai bức tượng bằng vôi, trắng xóa, mông lung. Miệng khô ran, tôi lết đến. Pộ Mo nhìn tôi, ánh mắt mệt nhọc, rồi ngước lên trời. Ban Mai rót cho tôi một bát nước như nước vối, đen xì. Tôi vục miệng vào uống một hơi. Rồi tôi lại nằm vật ra, bên cạnh đống than hồng đang từ từ tắt lịm, mở mắt nhìn vào bầu trờì vẫn chẳng một  gợn mây, không một  cơn gió. Tôi băn khoăn, đã bao nhiêu lễ cầu mưa của con người, và bao nhiêu lần trời cho mưa để cứu  lấy những vạt lúa chết khô vì thiếu nước ? Như một đứa trẻ con, tôi hỏi Ban Mai. Nàng không đáp, chỉ cười buồn, quay lại nói một câu với Pộ Mo vẫn cứ lặng lẽ nhìn lên trời.

    Tiếng ho khan sau lưng. Quay lại, cụ bà đang khom lưng đi tới, tay ôm một bọc to. Cụ đến cạnh Pộ Mo, thì thào vào tai, rồi vỗ nhẻ nhẹ vào vai tôi. Khi đó, Pộ xoay người đối diện với Ban Mai, nhìn vào mắt nàng, cất giọng đều đều nói như cầu kinh. Pộ nói rất lâu, đôi khi nói nói lại như dặn dò. Chỉ thấy nàng gật đầu, nét mặt nghiêm trang. Tôi trương mắt lên nhìn. Dưới ánh trăng xanh nhớt, tôi bỗng thấy tất cả quay về thời mà trí nhớ chưa có, vô thủy vô chung, tất cả trở thành vô cùng bé nhỏ, con người hầu như bất lực trước định nghiệp huyền bí, lơ ngơ đến thảm thương với những huyễn vọng và ảo tưởng. Lúc này, chẳng hiểu sao tôi lại nhớ thằng anh chết tiệt, cái nó gọi là vật Bảo Quốc Hộ Dân, liên tưởng chuyện Cao Biền trấn yểm long mạch đất Giao Châu, ngọn núi Nà Mèo và cái chày cái cối tượng hình  cho Nõn với Nường. Trên trời, trăng nhạt nhòa. Đằng xa, sao mai nhấp nháy. Xung quanh, những cặp gái trai ôm nhau trên bờ dưới bụi ngủ vùi. Vẫn cứ một tiếng khèn xa đưa, ai oán, rì rầm than vãn.

Pộ Mo đứng lên. Cụ bà, rồi Ban Mai cũng đứng lên. Nàng quay sang tôi, dịu dàng:

 ‘’ Ta  đi! Anh ơi…  ‘’.

Ban Mai ôm cái bọc cụ bà trao, lẳng lặng lên đường. Tôi bước theo.

Nhưng không phải con đường về bản. 

*

    Chúng tôi lên đèo xuống dốc hai lần thì Ban Mai bảo, sắp đến nơi rồi. Tôi buột miệng: ‘’  Đây đâu phải núi Nà Mèo!  Đâu đã đến Mai Châu đâu! ‘’.  Ban Mai quay nhìn tôi, giọng  nghiêm trang : ‘’ Pộ Mo bảo ta làm một việc trước cho dân Mường đã….Làm mà thành, ta sẽ đi Nà Mèo, Bua K’lời  muốn  thế! ‘’. Nói xong, Ban Mai quay ngoắt người, tiếp tục trèo lên một con dốc chênh vênh. Khi đó, nắng hoe vàng nhuộm đầu những tàn cây trong cánh rừng phía dưới. Cái nóng chưa hừng hực, nhưng chẳng phải không đe dọa, mồ hôi chưa gì đã dầm dề nhơm nhớp rịn ra trên lưng, trên gáy. Lên đỉnh, con dốc hẹp dần, cuối cùng chỉ một người đi lọt. Ban Mai đến gỡ một lớp lá cọ, sau là cánh cửa bện bằng mây dầy ba bốn tầng. Mở cái then gỗ chặn ngang, nàng lách mình vào.

    Ánh đèn pin chóa lên. Ban Mai  gọi, tôi theo vào trong khi nàng đang đánh diêm châm lửa vào đống củi khô chụm lại để trên nền đá.  Ban Mai dịu dàng : ‘’ Em đốt lửa cho khô, hang thường ẩm ướt, ngay cả trong mùa hè! ‘’.  Lát sau, cái hang quãng chục mét vuông hiện rõ  trong ánh lửa chập chờn.  Không biết từ khi nào ai đã để sẵn củi lửa, trải rơm trong một góc hang, và cắm những  ngọn bạch lạp trên ghềnh thạch nhũ trắng như pha lê vắt ngang. Tiếng róc rách vẳng lại từ một cái khe lấp sau tảng đá mầu xám chắn cuối hang trầm bổng chẳng  khác tấu khúc của một nhạc công tài tình. Quẳng cho tôi cái chổi, Ban Mai  bảo tôi quét hang cho sạch. Nửa nghiêm trang nửa cười cợt, nàng bảo : ‘’ Khéo phải ở đây một  tuần, nên giữ nếp sống văn minh đậm đà bản sắc chứ! ‘’. Phần tôi, tôi ngạc nhiên, nhưng hân hoan.  Ví mình như Lưu Nguyễn nhập thiên thai, tôi cợt nhả : ‘’ …một tuần chứ cả đời tôi cũng sẵn sàng ’’. Nàng trề môi không đáp, mở cái bọc ra, xếp lên ổ rơm một cái chăn mầu ngà và những trang phục sặc sỡ. Hỏi, Ban Mai  bảo : ‘’ Đây là quần áo hành lễ cầu lòng K’loi…’’. Chỉ vào cái chăn, nàng tiếp : ‘’  Đàn bà Mường mỗi người  chỉ có một  cái chăn này khi lấy chồng. Lúc là thiếu nữ, ai cũng mất cả năm tự mình dệt vải, hái gòn, đánh bông nhồi chăn, rồi thêu thùa những áng hoa văn. Cái chăn này của bà ngoại, bà quí lắm. Thế mà hôm nay bà mang cho em để em lên đây làm lễ với anh, lễ xong thì anh mang về nhé! ‘’.

     ‘’ Nhưng lễ cầu lòng K’loi là lễ gì ? ‘’, tôi hỏi.

Bảo tôi đừng vội, Ban Mai đốt trầm, mùi tỏa ra thơm ngát không  gian.  Nàng châm lửa vào một  bó đuốc rồi  kéo tôi lách người theo khe đá  dẫn đến ngách hang sau. Vào trong, giữa là một hồ nước, khói bốc lờ mờ . Tiếng róc rách phát ra từ nguồn nước trên đỉnh hang tí tách nhỏ giọt xuống triền đá ven hồ. Cuối ngách hang, một thân cây mục vắt ngang. Cây sần sùi, có lẽ xưa là thân một  cây đại thụ chết vì không có đủ đất để nẩy mầm sinh sôi.  Cẩn thận dò dẫm, Ban Mai tiến lại, giơ bó đuốc lên soi dưới thân cây mục. Nàng reo lên : ‘’  Có, có…Anh ơi lại xem! ‘’. Thật lạ lùng, những cái nấm to bằng hai bàn tay chụm lại mầu đỏ hỏn như da trẻ sơ sinh mọc dưới thân cây mục. Cắm đuốc, Ban Mai quì xuống, miệng đọc một tràng tiếng Mường. Khi nàng đứng lên, tôi thấy mặt nàng chan hòa nước mắt.

    Ban Mai ra hang ngoài, mang trang phục vào. Nàng nghiêm trang, mắt nhìn tôi dịu dàng.  Chân bước theo, tôi đi như một kẻ mộng du. Bên cạnh hồ nước ở hang sau, Ban Mai  lẳng lặng trút hết quần áo ra. Ngọn đuốc cắm trên đất vẫn cháy, hắt lên thành đá những cái bóng chập chờn hư thực. Sững người, tôi chong mắt nhìn Ban Mai lỏa lồ như một khối đá trắng đang vén tóc khỏa chân vào nước. Nguồn nước nóng, khói trên mặt hồ tỏa ra như sương khói, và người  đàn bà trước mắt  tôi như sắp biến đi. Có cái gì đó thật mong manh. Có cái gì đó ngậm ngùi khôn tả. Trần truồng, tôi trầm mình vào làn nước nóng ôm lấy tôi như một bào thai còn trong bụng mẹ. Tôi nghe mơ hồ nghe tiếng Ban Mai:

    ‘’ Plái ló ơi vên tun vên nhà ma ở ! Lúa ơi, về ở nhà ở đụn. Trổ mầm, lúa cần nước. Bua K’loi ơi, xin hãy làm mưa. Lạy trời mưa xuống. Lấy nước  tôi  uống, lấy nương tôi  cầy... Đừng bỏ đói chúng tôi…’’

Không dằn được, tôi hỏi lại nàng câu nàng chưa đáp.

    ‘’ Chuyện Bua K’loi tha thứ Tạ Cần và Yạ Kịt là cái gốc của lễ cầu mưa. Con gái con trai Mường  ăn nằm với nhau đêm qua là để xin Bua làm mưa, như Bua đã từng tha thứ Tạ Cần và Yạ Kịt. Nhưng anh thấy đó, Bua K’loi  không động lòng thương. Dân gian Mường có câu không cứ bắc lên nấu là thành chõ xôi, không phải bắc lên ninh là thành đôi lứa. Pộ Mo không còn cách gì khác hơn là sai chúng ta lên đây làm lễ cầu lòng K’loi…’’

*

    Ban Mai bảo sau khi tạo thiên lập địa, thế giới Mường Pưa chia đôi. Chuyện rằng :

    ‘’… nàng Hươu sao gặp chàng Cá Chép. Kẻ trên bờ, người  dưới nước, nhưng chính sự kỳ bí huyền nhiệm của cuộc tồn sinh đã đẩy họ vào vòng tay nhau. Hươu sao  đăm chiêu ‘’ ... ở hai cõi, ta làm sao yêu nhau trọn đời ? ‘’. Cá Chép quyết liệt ‘’ Chứ sao không? Lòng hai ta sẽ làm động cả vũ trụ vật thể lẫn phi vật thể! Nếu Trời-Đất lương tri, thì rồi mai đây mọi cõi thế gian chỉ là một cõi hai ta khai sinh ra, gọi là cõi tình. Đó là cõi vĩnh hằng, em tin anh đi ‘’. Nàng Hươu khép mi, thả mình ngụp lặn trong lòng tin vào hạnh phúc, để mặc chàng phủ lên thân xác những vết xước nhục cảm đánh dấu niềm hoan lạc lứa đôi. Cõi người  nhân lên theo sự nẩy mầm của những trồi xuân. Nàng Hươu hạ sinh trăm con. Chàng Cá vui mừng, xin vợ cho con về biển. Nhưng là Hươu, nàng làm sao bơi lội như loài cá. Nhưng là Cá, làm sao chàng lên rừng sinh sống với cỏ cây. Mâu thuẫn. Vũ trụ giằng co giữa âm và dương, lưỡng nghi tạo ra những đối cực khiến thiên nhiên áp đặt đến độ không còn cách gì khác là nàng Hươu sao và chàng Cá chép buộc phải chia tay. Nàng Hươu mang trăm con lên núi. Cõi tình chỉ còn là hoài tưởng. Bua K’loi nổi giận, quát : ‘’  Mới thử thách xem cái cõi tình bền vững thế nào thì chưa gì chúng nó đã chẳng dám sống chết có nhau. Cái chúng nó gọi là tình chỉ là hiện tượng cõi vật, chưa thăng hoa thành hồn trong cõi phi vật thể !’’.   Bua  ra oai  trừng phạt  khiến hạn hán triền miên. Cây rừng không  xanh, lúa chẳng kết hạt. Trăm đứa con theo mẹ vật vã đói khát khóc kêu, nhưng lòng Bua K’loi chẳng  động. Nàng Hươu đành cầu cứu chàng Cá. Phải tự cứu, con đành chia đôi. Và chàng Cá mang năm mươi đứa con về biển, thành người Kinh. Đám năm mươi đứa còn lại ở với  Nàng Hươu, thành người  Mường của rừng của núi ’’.

    ‘’ …nhưng lễ thế nào cho K’loi động lòng? ‘’, tôi bồn chồn không nhịn được, ngắt ngang.

Ban Mai đứng lên, dịu dàng :

    ‘’ Lễ làm sao phục hồi được cõi tình bỏ ngỏ, anh ạ! ‘’

Nhìn bức tượng ngồn ngộn ấy không có lấy một mảnh vải che, tôi sững sờ, thầm nhủ nếu Ban Mai là nàng Hươu thì tôi nguyện làm chàng Cá đến độ sống chết bất cần. Lấy khăn lau nước   đọng trên thân thể nàng, tôi thành khẩn nói, tay tôi run lên như khi chăm chút một cổ vật quí hiếm.

    Ban Mai hỏi, giọng hoài nghi : ‘’ Có thật  sống chết bất cần không? ‘’.

*

    Ra hang ngoài, Ban Mai thắp những ngọn bạch lạp,  Nàng mặc yếm tơ ngà, quàng tênh xanh, váy chùng mầu đen láng mượt , eo cuốn xà tích vòng cung mầu trắng khiến những hoa văn trên bụng nổi lên như chạm trổ. Tóc giắt trâm bạc, cổ tay đeo trằm, nàng xõa tóc hong khô, tóc mượt mà chảy thành thác xuống hai bờ vai.

    Đợi tôi choàng lên người tấm áo bằng lụa vàng, cuốn cạp giử chiếc quần ống loe làm bằng vải chàm màu tím than, Ban Mai đội khăn trắng lên đầu,  mở phên cửa mây, lách ra ngoài. Nàng căng mắt nhìn xuống phía dưới, tay chỉ : ‘’ Bản em đằng kia, giờ này chắc cu Tít con em đang nghịch với lũ gà con…’’. Nàng quay mặt, mắt ươn ướt, buột miệng ‘’…em thương nó lắm ! ‘’. Lát sau, nàng mím môi bảo :

    ‘’  Anh nhìn rừng nhìn núi đi,  đóng cửa hang là chỉ khi K’loi động lòng làm mưa thì mới mở đấy ! ‘’.

Tôi đưa mắt, nhưng chỉ thấy hình ảnh Ban Mai nõn nà trong hồ nước hang sau, tai nghe nàng thì thào : ‘’ Thanh tẩy cho sạch bụi rồi đấy anh…’’.

    Ban Mai lấy từ cái bọc  ra hai đôi đũa và một con dao gỗ. Không nói không rằng, nàng vào hang sau, lần đến thân gỗ mục, cẩn thận nậy từng cái nấm ra để vào đĩa cũng làm bằng gỗ. Nàng thì thào : ‘’ Nấm này Pộ mo gọi là linh chi, kị  kim khí. Ăn vào, con người vượt được hai phần ba đoạn đường đi tìm hạnh phúc ‘’. Sững ra, tôi liên tưởng đến chính câu tôi hỏi mới dăm ngày trước, hạnh phúc là gì? Không biết, thì làm sao tìm đây? Nhưng không hiểu sao tôi trân trọng đỡ lấy cái đĩa gỗ Ban Mai đưa, nâng nó lên ngang đầu, dò dẫm bước từng bước ra hang ngoài.  Ban Mai đun nước sao một loại lá rừng tôi không biết tên. Nước sóng sáng xanh biếc, uống vào miệng ngọt lự, hương thơm lừng lên mũi.

    Chúng tôi xếp chân ngồi bằng tròn, trước mặt là đĩa nấm đỏ hon hỏn, ở giữa mỗi cái là một chấm vàng to bằng đầu đũa, xung quanh vô số những chấm nhỏ mầu tím lợt. Lúc ấy, tôi mới hỏi, ăn vào vượt được hai phần ba đoạn đường đi tìm hạnh phúc là thế nào. Không đáp, Ban Mai hỏi lại :

    ‘’ Khi nẫy anh có nói sống chết bất cần, nhưng  thật thế không? ‘’

Sống lưng tôi bỗng lạnh đi, và tự nhiên tôi sợ. Như đoán được, Ban Mai tiếp, giọng nghiêm trang :

    ‘’ Pộ mo nói, nấm này ăn vào giải thoát con người khỏi bản năng chiếm hữu. Nó đến từ nỗi sợ. Cơ ngơi tài sản, danh vọng, quyền lực đều là vì sợ ma ra. Người ta sợ đủ thứ, nhưng rút lại đều là sợ tương lai cuộc sống. Sợ nó bấp bênh nên đi chiếm hữu để tự bảo tồn. Và vì ai cũng chiếm hữu mong trấn an cho mình, đâm ra cái sợ nhân thêm lên, là sự sợ lẫn nhau. Càng sợ, càng thèm thuồng chiếm hữu, và cứ thế, con người chẳng những không giải quyết được gì mà còn làm cho sự sống mỗi lúc một bất an. Họ tham sống, quên mất cái hữu hạn trăm năm của chính mình. Tương lai nào, với ai,  rồi cũng đào sâu chôn chặt. Có kẻ tin rằng chiếm hữu bây giờ khiến tương lai con em họ sẽ khác đi. Nhưng dẫu truyền giống, cứ nghĩ xem, rồi đời nào thì cũng vậy, cũng sẽ phải chạm mặt với cùng một vấn đề…’’

Ban Mai nâng một cái nấm lên ngang miệng, cười :

    ‘’  Hiểu ra sự chết, và đừng sợ qui luật thời gian, bắt đầu bằng từ bỏ chiếm hữu. Lúc đó, sống và chết không là hai, mà là một. Ăn nấm này vào, ta diệt được cái bản năng chiếm hữu …Và từ đó, ta đoạt lại tự do.  Sống chết đã bất cần, anh có dám ăn không ? ‘’

Không biết mình có bất cần hay không, nhưng ở cái thế này, tôi cầm lên một cái nấm, giữ vẻ bình thản bỏ vào mồm. Mỉm cười, Ban Mai làm theo. Vị của nấm đắng chát khiến tôi nhăn mặt. Từ tốn, Ban Mai mỉm cười đưa tôi bát nước. Uống vào, vị chát tan ra, trở thành ngọt dịu. Nuốt xong, tôi lại lấy thêm một cái nấm khác, hỏi :

    ’’ Đoạt lại tự do là thế nào ? ‘’

    ‘’ Không chiếm hữu, không có gì ràng buộc, mình không xác định bằng những gì mình có như tiền tài, cương vị… Khi đó thì mình tự do để thể hiện cái mình là, để còn lên đường. Chiếm hữu sẽ ràng buộc những bước khởi hành như dây rợ. Muốn đi về phía trước, phải chặt dây để giải phóng mình… Pộ lại dặn, cái mình là không chỉ là mình. Đặt chân lên điều ta ngộ ra đó là bắt đầu bước vào một phần ba còn lại trên con đường tìm hạnh phúc…’’

    ‘’ Nhưng hạnh phúc là gì ? ‘’

Vừa nói xong, mắt tôi hoa lên. Sắc mầu trong hang bỗng chuyển động, hàng bạch lạp cắm trên ghềnh đá chao ngang nhẩy múa chẳng khác gì đám trai gái Mường trong đêm hội cầu mưa. Nhắm mắt lại, tôi định thần nhưng bằng ấy sắc mầu nay bay lượn  trong tiếng bổng trầm của một dàn đại hòa tấu. Mở mắt ra, Ban Mai trước mặt tôi vẫn đấy. Tóc nàng nay bạc trắng, rủ xuống ổ rơm vàng óng lên. Ban Mai cười, mắt lóng lánh, thình lình nhìn thành nàng Hươu sao. Đưa tay ve vuốt, ôi mượt mà như nhung. Xúc giác tôi bén nhậy gấp hàng trăm hàng ngàn lần lúc bình thường, cho tôi cái cảm giác ngụp lặn vào da thịt nàng Hươu, cảm giác choáng ngợp đến độ tôi chỉ có thể tan biến ra thành không  khí.

*

    Tiếng chí choé của lũ vượn khiến tôi tỉnh giấc. Khí lạnh trong hang làm tôi chần chờ trong chiếc chăn bông ấm áp. Quơ tay, Ban Mai không còn nằm bên cạnh, nhưng mùi hương người nàng vẫn đâu đây váng vất. Giụi mắt ngồi lên, tôi vẫn còn như cứ lênh đênh giữa hư thực trong bóng đêm,  đưa mắt xung quanh tìm. Ban Mai từ hang sau đi ra, tay cầm ngọn bạch lạp cháy dở. Ánh lạp hắt lên mặt nàng những khoảng sáng tối chẳng khác gì một bức tranh Gauguin vẽ những  người đàn bà đảo Tahiti tôi đã xem trong một viện bảo tàng bên Pháp. Thấy tôi đã dậy, nàng cười : ‘’ Anh ngủ ngon quá, em không dám đánh thức! ‘’. Rót nước cho tôi, nàng ngồi xuống bên cạnh, lưng dựa vào vách đá.

    Định thần một lúc lâu, tôi nói về những cái tôi thấy, tôi nghe, tôi ngửi, tôi sờ… sau khi ăn nấm.  Ban Mai bảo nàng ban đầu cũng thế, nhưng nàng thấy những cái tôi không thấy, nghe những cái tôi không nghe…Như vậy, nàng kết luận, mỗi người sống những ảo giác riêng trước chỉ một thực tại. Nàng nhắc lời Pộ Mo : ‘’ Thực tại mắt thấy tai nghe ở bên ngoài là thế giới hiện tượng. Cái phần trong con người mới là lõi,  Mo gọi là hồn, phi vật thể.  Nấm ăn vào sẽ đổi cái lõi cho những kẻ có căn duyên !’’. Tôi hỏi, Ban Mai lắc đầu đáp rằng đây cũng là lần đầu nàng ăn nấm như tôi. ‘’ Cái gì gọi là phần hồn ?’’, tôi thốt lên, giọng hoài nghi châm biếm. Lẳng lặng một lúc, Ban Mai ngập ngừng :

    ‘’  Có thể nó thế này…Khi em nhìn anh ngủ, em chợt thấy lòng động một niềm xót thương vô hạn, mặc dầu riêng anh có gì đâu mà phải thương xót…Em hiểu đó là niềm xót thương đó trùm lên tất cả thế giới và nhân sinh, trong đó có anh… ‘’

Nghe Ban Mai nói, tôi chợt nhớ đến câu  ‘’ yêu em lòng chợt từ bi, bất ngờ ’’ trong một  bài hát tôi lẩm nhẩm hát đi hát lại thời tôi còn giữ được tin yêu và hy vọng. Buồn bã nhận ra sự chai sạn đã cóc cách bám vào đời, tôi nhìn sâu vào mắt Ban Mai, nước  mắt ứa ra, lập lại như khẩn cầu :

    ‘’ Nhưng hạnh phúc là gì ?’’

Ban Mai vòng tay ôm đầu tôi vào, nhẹ nhàng vuốt tóc, bảo bọc như kén bọc lấy tôi, con tằm đợi giờ mong hóa bướm.  Không biết bao lâu sau, tôi nghe nàng thì thào :

    ‘’ Ta phải đi đoạn đầu đã. Một phần ba còn lại, khi nào đến, ta sẽ lên đường. Với nhau !’’

*

    Ngày hôm sau, tiếp tục ăn nấm và uống nước,  tôi khám phá ra những tác động lạ lùng. Với ý chí, bộ não tôi đánh thức được trí nhớ  của mọi giác quan. Tôi nhắm mắt, muốn mầu nào tức mắt thấy mầu ấy. Đi xa hơn một mức,     tôi mường tượng những bức tranh đã coi, nào là Monet, rồi Van Gogh, và chúng hiển hiện trong võng mạc như có đấy. Tôi vốn nghe nhạc cổ điển mỗi lần lái xe đi làm. Và khi tôi muốn nghe Bach, lát sau tiếng đại hồ cầm âm trầm trổi lên, tai tôi nghe tấu khúc cho ba vĩ cầm cung D thứ, âm thanh réo rắt chạy đuổi nhau. Mở mắt ra, trước mặt tôi vẫn Ban Mai bất động,  môi khẽ  nhếch lên như sắp cười.

    Nói cho Ban Mai nghe vể cái khả năng lạ kỳ tôi lần đầu chứng nghiệm, nàng không tỏ ra ngạc nhiên. Nàng thủ thỉ :

    ‘’  Em khác, em nghe tiếng muôn loài, từ tiếng con trâu khụt khịt đến tiếng voi gầm, sói hú. Còn nhìn, trời chỗ nào cũng đầy những cánh chim âu bay liệng hiền hòa…Nhưng chẳng cần anh nói, em không biết tại sao em linh cảm đoán trước được. Có lẽ chúng ta đang nhập vào bước khởi đi của cuộc hòa  đồng. Pộ Mo dặn, khi đó phải buông thả  như mây  gió trên trời cao, như sóng triểu trong  biển cả …’’

*

    Tối đó, dưới ánh bạch lạp, Ban Mai rực rỡ sức sống. Ngồi trước mặt nàng, tôi nhắm mắt, tưởng tượng nàng đến bên tôi, nói yêu tôi như chưa từng yêu ai. Tôi cũng thế, yêu lúc nào cũng là lần đầu, trinh nguyên, toàn vẹn. Ban Mai mỉm cười, cởi yếm, kéo chiếc váy chùng  xuống quá gối, tay gỡ  trâm bạc cài đầu, tóc lại như thác đổ xuống, uốn lượn theo những đợn sóng ngọc ngà. Tôi mở lòng tôi như đại dương, mở vòng tay rộng ngang bầu trời, chờ Ban Mai khỏa lấp mọi trống vắng. Nàng như nhung như lụa áp vào, tôi như sắt như đồng cương cứng. Tôi, Tá Cần và nàng, Yạ Kịt, yêu nhau đế đánh động lòng K’loi, sinh sôi mọi mầm sống, trên cạn là muông thú, dưới nước là tôm cá, khiến Mường Pưa dưới đây sẽ trở thành địa đàng.

    Chưa bao giờ, chưa bao giờ tôi đến cực lạc như vậy. Mở mắt, Ban Mai vẫn ngồi trước mặt, môi nàng run run, miệng hé mở, mắt khép hờ, áo quần trên thân thể y nguyên vẫn thế. Nàng nói, giọng nhẹ như tiếng mây rơi đầu đỉnh núi : ‘’ Anh ơi, vừa rồi em hạnh phúc vô cùng! ‘’. Phần dưới cơ thể tôi ướt nhờm nhợp, chứng cứ  một niềm hoan lạc mà không cần đến chiếm hữu chung đụng thể xác.

    Chúng tôi vào hang sau, ngâm mình trong nước hồ ấm áp, lòng hân hoan như con trẻ ngày mồng một Tết.

*

    Sáng ra, Ban Mai nghiêm trang :

    ‘’  Hôm nay là ngày thứ ba, ngày anh phải lấy một quyết định không đảo ngược được. Ăn nấm linh chi hai ngày xin Bua K’loi động lòng làm mưa mà được thì ta về. Nhưng nếu sau, cứ tiếp tục ăn thì đến ngày thứ bẩy ta cùng chết với nhau, trừ khi trời mưa, Pộ Mo sẽ lên đây cho ta uống thuốc phục hồi sự sống. Vì thế, em từng hỏi anh, có thật anh sống chết bất cần không? Nếu anh không sẵn sàng, xin anh cứ theo lối cũ mà về…’’

    Hốt hoảng, tôi chặn ngang : ‘’ Thế còn em !’’.

Ban Mai bình thản :

    ‘’ Em xin Bua động lòng để cứu nương cho người Mường, cứu suối cho tôm cá, cứu rừng cho muôn thú. Nếu không cứu được, chỉ còn sự chết ngự trị, em sống một mình làm gì? Nhưng anh thì khác…’’.

Thình lình tôi nhớ đến hai đứa con tôi và người vợ, không xấu không đẹp, không thông minh nhưng cũng chẳng đần độn. Con tôi nay đã lớn khôn, chúng nào có cần tôi như khi thơ dại. Phần vợ tôi, nàng chưa hẳn già nên có thể vá víu đi thêm một bước, với ai thì cũng như tôi, sáng đi tối về, kiếm cơm tìm áo.  Bờ bên kia Thái Bình dương  bỗng tít tắp xa hơn cái giới hạn địa lý đo đạc trên bản đồ. Cũng như Ban Mai, tôi tự hỏi, tôi sống một mình làm gì? Đặc biệt đối với tôi, một kẻ con đã lớn, vợ không dại, nghĩa là chẳng mấy cần tới mình.

    Tôi chợt nghĩ tới chuyện chàng Cá chép và nàng Hươu sao. Chuyện nhắc nhở truyền thuyết Âu Cơ và Lạc Long quân của người Kinh, mẹ đẻ trăm trứng rồi cũng chia ra đôi ngả, bỏ bùa bỏ ngải làm phân liệt cả một dân tộc hàng mấy trăm năm. Thế thì chẳng lẽ tôi cũng lại tạo ra cái cõi vô tình, tiếp tục huyền thoại chia đôi kẻ trên rừng người dưới biển, để Bua K’loi lại nổi giận trừng phạt như Bua đã từng làm ở một quá khứ mịt mùng ? Thình lình, tôi nghĩ đến cái vật Bảo Quốc Hộ Dân và thằng anh chết tiệt khiến tôi về đây rồi lên cái hang kỳ lạ này. Phải mưa thì mới có lúa,có gạo. Lúc này mưa cho lúa nẩy mầm thì đúng là hộ dân, ít ra cũng là dân Mường Thàng.

    Ban Mai bưng ra một đĩa nấm. Lần này, nàng chọn những cái chỉ nhỏ bằng lòng bàn tay, tròn trĩnh hơn, mầu hồng lợt,  mặt trên nổi những cái chấm vàng tươi. Đột nhiên, tôi  nhớ cái câu bất hủ , not life but love in death,  xưa tôi thấy hơi sến nhưng nay bỗng sâu sắc đến như hiển nhiên. Thò tay, tôi bốc một cái bỏ vào mồm. Nấm này không chát, vị bùi, trôi tuột vào cổ họng chẳng cần chiêu nước. Ban Mai nói :

    ‘’ Ăn nấm này, bản năng chiếm hữu sẽ không còn. Hai ngày trước, ta trải nghiệm thế giới vật thể chỉ là ảo giác có thể tạo từ thế giới phi vật thể. Lần này, hai thế giới sẽ chỉ là một, có và không  đồng nhất. Con người  được giải phóng khỏi mọi sự ràng buộc vật chất, không u mê đắm mình vào chìếm đoạt để có. Họ trở thành tự do, ngộ ra cái mình là, và đó là  điều kiện cần để đạt đến hạnh phúc! ‘’

    ‘’ Nhưng hạnh phúc là gì ?’’, tôi lập lại câu từng hỏi, nhưng lòng vô cùng bình thản.

             ‘’  Hạnh phúc là một trạng thái của phần hồn một con người tự do. Thế cho nên hạnh phúc cũng như con người, nhiều vô số kể, mỗi người tìm và ngộ ra hạnh phúc của mình. Pộ Mo dậy, hạnh phúc là tỉnh thức ở ngay hiện tại cuộc sống. Hạnh phúc không là tụ điểm tuyệt cùng mà luôn luôn là bước khởi đi để tiếp tục sự sống trong tương lai ‘’.

    ‘’ Em đã trải nghiệm trạng thái đó chưa? ‘’

Ban Mai ngẫm nghĩ, rồi dịu dàng :

    ‘’ Một lần, đầu mùa mưa, em vào hái măng trong rừng. Khi đó, trên mặt đất đầy sâu róm đến đúng độ nở ra từ trên cây lả tả rơi xuống. Mấy đứa gái cùng đi tìm măng bỏ chạy về, chân dẵm lên những con sâu nhỏ bằng đầu ngón tay út, xác sâu bị đạp nhẹp rải khắp lối mòn dẫn từ rừng ra bản. Ban đầu, em cũng kinh hãi, nhưng không  biết động lực nào khiến em không hốt hoảng chạy. Em ngồi xuống quan sát từng con sâu, lông lá sắc mầu, oằn èo khó nhọc trờn đi, vật lộn tìm chỗ sống còn. Chính cái sự sống ấy khiến em cảm động, và lúc đó, em chắp tay lạy K’loi hãy cứu lấy  những con sâu nhỏ bé vô tội này. Em cảm nhận được sự huyền diệu bảo bọc thế gian, và em hòa đồng vào thế gian như một  giọt nước trong sông hiền hòa chảy ra biển rộng.  Thế là em rón rén đi thế nào tránh đạp vào sâu, đến tối mịt mới về đến bản, nhưng lòng rào rạt một niềm yêu thương, yêu từ con sâu đến hòn đá ven đường, yêu cơn gió tạt ngang, đám mây lững lờ tít tắp… Đấy, hạnh phúc với em lúc ấy như đại dương, còn em, là một giọt nước. Là giọt nước, em chỉ có thể cảm được đại dương bao la… Khi hạnh phúc, có lẽ ta chẳng cần nói về hạnh phúc. Giọt  nước làm sao tách khỏi để nhìn ra đại dương là gì ? ’’. 

    Tôi nhắm mắt tưởng ra cảnh một Ban Mai trinh nguyên ngồi nhìn sự sống và chắp tay cầu K’loi  cứu rỗi lấy những sinh vật bé nhỏ. Phải chăng hạnh phúc là lúc tâm hồn giao hòa giao cảm với sự sống muôn loài muôn vật ở thì hiện tại ? Tôi buột miệng :

    ‘’ Thế thì… hạnh phúc là một thoáng phù du thôi sao ? ‘’

Ban Mai bật cười :

     ‘’ Em học hành chẳng bao nhiêu, nhưng biết gì em nói đấy, anh  đừng cười em. Chính vì cái gì cũng rồi phù du nên mới phải triệt tiêu bản năng chiếm hữu bằng sự tỉnh thức. Không giữ gì cho mình nên ta vượt thoát được tất, kể cả qui luật thời gian hiển hình ra sinh tử. Vượt được thời gian, sát na ngay bây giờ hay ba tỉ năm sau khi trái đất này trở thành một khối băng miên viễn, thì rồi như nhau. Phù du và vĩnh cửu cũng đến thế, bận tâm mà làm gì ! ‘’.

*

    Chúng tôi sống với nấm và nước lá rừng sao lên uống. Đó là những ngày an bình tôi chưa bao giờ biết để tận hưởng. Trạng thái hạnh phúc đồng nghĩa với tình yêu chan hoà. Yêu tất cả. Từ tiếng chim ngoài hang ríu rít đế tiếng chân chồn chạy trên cỏ khô. Từ tiếng vượn đầu cành đến tiếng vạc ăn đêm xào xạc. Hiện thực trở thành phép lạ, nó hiển hiện qua từng cái ta nghe, ta nhìn, ta ngửi. Nhưng nó đến từ tỉnh thức, khác hẳn với những  ảo giác hai ngày đầu. Mở cửa hang, chúng tôi  nhìn nắng nhuộm vàng rừng cây cuối tầm mắt. Cái đẹp rực rỡ của thiên nhiên làm chúng tôi quên cả cầu cho K’loi  động lòng làm mưa.  Ban Mai bảo, hạnh phúc là cái phải tập. Mở lòng trải rộng ra đón nhận ngoại giới, lòng từ bi trào lên trong nội tâm, và trạng thái hòa đồng thành một với thế giới bỗng trở thành tự nhiên như nước từ nguồn, đã chẩy ra thì rồi sẽ về biển.

    Đến khi tối mắt, đêm chập choạng lần về. Chúng tôi ôm nhau dưới cái chăn tình nghĩa cụ bà cho. Không thoáng gợn một  chút đòi hỏi thân xác. Không sở hữu chiếm đoạt. Vì chúng tôi sinh thành từ trinh nguyên, không hành xử  bằng bản năng chúng tôi đã thay thế bằng sự tỉnh thức. Trăng bên ngoài nay khuyết, chỉ còn một nửa. Ban Mai dập những ngọn bạch lạp. Ánh trăng hắt qua cánh cửa những vệt sáng lung linh trên nền hang mang cái hoang sơ vào phần hồn chúng tôi, nhẹ hơn gió,  dao động với hơi thở phập phồng của vũ trụ.

    Thình lình, sấm động.

    Sấm ầm ì chuyển tiếng gầm gừ qua những thung lũng khô cằn. Gió lên, phần phật. Ban Mai mỉm cười, giọng bình thản :

    ‘’  Bua L’loi động lòng chăng! Hai đứa ta không hành xử như nàng Hươu và chàng Cá, Bua trách thế nào được! ‘’.

Tôi gật đầu, một niềm vui dâng lên trong lòng.  Mở cửa, Ban Mai bước ra cửa hang. Tôi theo sau. Tiếng sấm dồn dập, chớp xanh lè nháng lên chập chờn rừng núi chao nghiêng, sét bất chợt soẹt lửa xé dọc bầu trời thành hai trong một tiếng nổ kinh thiên động địa.

    Mưa ập xuống, ào ào như thác đổ.  Để mặc cho mưa quật vào mặt, hai đứa chúng tôi hứng những giọt nước K’loi  cho, thân thể ướt đầm, niềm hạnh phúc đan vào những giọt mưa kết chuỗi thành  những sợi pha lê buộc trời vào đất, buộc đất vào số phận con người.

    Hạnh phúc, trong cơn mưa này,  là điều có thật.

*

    Pộ Mo lên tận hang cho chúng tôi uống thuốc khắc phục tác động của nấm linh chi. Chân tay bải hoải nhưng đầu óc vô cùng tỉnh táo, chúng tôi lên võng để tráng đinh võng về bản lễ Tạ ơn K’loi.  Vừa đến nhà sàn nơi Pộ làm lễ, cu Tít chạy xổ ra, miệng tíu tít : ‘’  Bà ngoại đã về, mẹ ơi! ‘’.  Một người đàn bà trung niên bước xuống thang. Ban Mai kêu Mế ơi, ôm lấy bà. Mừng ra mặt, bà líu la líu lo tiếng Mường. Cụ bà lúc ấy ra đứng cửa, gọi : ‘’ Phin ơi,  dìu  con gái  vào nhà đã! ‘’. Tôi hiểu cụ bà chính là dì nường Phin, và Ban Mai là đứa con sinh từ ân ái với một chàng chiến sĩ phòng không thời Hà Nội bị bom Mỹ.

    Nường Phin kể :

    ‘’ … vừa đặt Nõn và Nường trên dưới đúng phép âm dương nơi nước nhỏ giọt xuống một cái hồ có thân cây gỗ mục vắt ngang trong cái hang ở đỉnh Nà Mèo thì trời nổi sấm động, sét đánh toạc không trung thành hai mảnh, và mưa xối xuống như thác đổ. Chúng tôi cùng kêu, thế đúng là đã giải được trấn yểm đất nước này rồi! ‘’.

     Tôi nhìn Ban Mai. Không nói nhưng chúng tôi đều biết đó chính là cái hang chúng tôi trú ngụ năm ngày nay để làm lễ động lòng Bua K’loi. Chẳng buồn hỏi thằng anh chết tiệt của tôi nay ở đâu, lòng tôi bâng khuâng, linh cảm một nỗi ngậm ngùi tự nhiên ùa tới chiếm ngự.

    Tối hôm đó, khi mọi người đã ngủ yên, tôi mở liếp cửa ra ngồi ở cầu thang bắc lên nhà sàn của Cụ bà. Không còn trăng, trời chi chít sao xếp theo những vòng xoáy trôn ốc trên cao. Mùi đất ẩm sau cả một ngày mưa bốc lên, khí lạnh len vào thấm buốt da  thịt. Trầm tư về niềm hạnh phúc tôi vừa trải nghiệm khi sống-chết đồng nhất thể, phù du không khác chi vĩnh cửu, tôi nghe loáng thoáng lời Ban Mai :

    ‘’… hạnh phúc là tỉnh thức ở ngay hiện tại cuộc sống. Hạnh phúc không là tụ điểm tuyệt cùng mà luôn luôn là bước khởi đi để tiếp tục sự sống trong tương lai ‘’.

     Giải được vật trấn yểm rồi, nay tôi bước tới là bước tới tương lai nào đây? Chẳng lẽ quay về  sống cái đời sống tôi đã ngộ ra mọi sự nhàm chán của những con tính kế toán, bên thu bên chi, chỗ này khấu hao, chỗ kia là nợ bất khả hồi, tất cả để thành một kết toán làm đẹp lòng những người có cổ phiếu. Chẳng lẽ tiếp tục ba cọc ba đồng, cuối tháng tính toán trả tiền phone, tiền internet, tiền nợ xe, nợ nhà, nợ cạc Visa … Cứ ngồi như thế, tôi sực tỉnh khi ai đó choàng lên vai tôi chiếc chăn còn ngát mùi da thịt Ban Mai.

    Quay lại, tôi không biết đó là nường Phin hay Ban Mai khuất trong bóng tối. Thu hết can đảm, tôi vội nói :

    ‘’ Cho anh ở lại Mường. Đây là nơi cuối cùng anh muốn đặt chân lên thế gian này! ‘’.

Mơ hồ, một tiếng cười khan. Rồi chỉ có tiếng giun dế cất lên như phụ họa.

    ‘’ Thế thì làm sao hạnh phúc có thể là bước khởi đi ? Nơi cuối cùng là nơi dưới ba thước đất vùi sâu chôn chặt. Nơi đó không là thế gian Mường Pưa mà là âm gian, Mường Pưa Tịn…’’

    ‘’ Hay là…hay là… em đi với anh, ta vượt đại dương tìm một  chân trời mới! ‘’

    Lại tiếng cười khan. Lại tiếng giun dế ồ lên, bỡn cợt.

    ‘’ Chân trời mới lúc nào cũng ở trong em, bất tất phải là vật thể. Em đã đến đó với anh rồi cơ mà ! Anh quên niềm hạnh phúc chúng ta tưởng chia nhau mà hóa ra nhân thành hai trong hang à? Khi ta phục hồi cõi tình làm động lòng K’loi, chẳng  phải  trời đã mưa sao? Và trời còn đang mưa, để mai này cây cối lại xanh tươi, nương lúa sẽ kết trái đâm mầm, chim muông bay lượn, hươu nai nhẩy nhót, những  con sâu róm cũng tái sinh  như sự nhiệm mầu của cuộc sống  muôn loài khởi đi từ nguyên sơ, tiến hóa không  ngừng …’’

    ‘’  Nhưng còn anh ! Anh sẽ ra sao? ‘’

Không đáp câu tôi hỏi, vẫn tiếng thì thào:

    ‘’ Chàng Cá ơi, ở trên rừng sẽ có một  ngày anh nhớ những kinh kỳ, những thành phố chộn rộn ngựa xe. Còn em, là Hươu, ở kinh kỳ rồi em sẽ tương tư núi rừng nương rẫy, thèm hít thở không  khí  chưa vẩn bụi xăng, ước ao sống mà không  sợ. Anh còn nhớ con người  chiếm hữu vì sợ chứ ? Sợ tương lai bấp bênh, rồi càng chiếm hữu, càng sợ, và đâm ra sợ đồng loại cũng chìm đắm vào nỗi u mê chiếm hữu như mình ! Vượt đại dương với anh, cả hai chúng ta sẽ lập lại lỗi lầm trong huyền thoại, phải chia đôi trăm đứa con, cắt làm hai chính mình ra chỉ vì cái ảo tưởng nghịch lý là để có nhau. Đã bảo thôi chiếm hữu, chàng Cá của em lại nhân danh tình yêu đòi sở hữu em, con Hươu sao này à ?  ‘’

    Tôi im lặng.

    ‘’  Em nhắc nhé : hãy trải rộng ra đón nhận ngoại giới, lòng từ bi chiếm ngự nội tâm, và trạng thái giao cảm giao hòa thành một với thế giới muôn loài muôn vật bỗng trở thành tự nhiên như nước từ nguồn, đã chẩy ra thì rồi sẽ về biển. Thế là em đã vượt đại dương với anh rồi đấy! ‘’

    Tôi im lặng.

Hai tay ôm lấy vai tôi, người đàn bà sau lưng thủ thỉ:

    ‘’ Anh mang chăn tình chăn nghĩa này về, khi đắp lên người thì đừng quên những phút giây hạnh phúc ở Mường này. Còn em, nhớ anh, em sẽ hát. Hát thế này anh nhé:

             Cánh diều vì ai mọc cánh lên mây

             Con người vì ai ngậm ngải lên non

             Con nước vì ai lên trời xuống biển

             Năm nay mưa ít

             Mà vườn nhãn chưa hoa

             Để con ong ngơ ngẩn  ra  vào [4]

 



[1] Ba hồn bảy vía  con trai, con gái, ở đâu thì về cùng bố, cùng mẹ, ăn cơm, ăn cá.
   Bố ơi chết bỏ tôi  làm sao vậy, thân mình ăn đâu ở đâu, bố  ơi!

[2]Ăn ra khói, nói ra lửa

   Để cho quỉ xa ma sợ

[3]Vía lúa ơi, về đụn về nhà mà ở! 

[4] Thơ Bùi Thị Tuyết Mai, Mường Trong, nxb Hội Nhà Văn, Hà Nội, 2006.