Nam Dao

10-06-2007

Trăng nguyên sơ

tiểu thuyết

 

một: chiếu dời đô 

hai: cứ tìm, sẽ thấy

ba: trứng rồng trong lòng sông Nhị

bốn: rồng lộn đỉnh núi Nùng

năm: vật quí hiếm bảo quốc hộ dân

sáu:  mép cõi đi về 

TRĂNG NGUYÊN SƠ 

 

một

 

   Nghiêng mắt nhìn xuống, nghe người bên cạnh bảo đê sông Hồng đấy, năm nay lại phải đắp đê chống lũ. Con nước mầu nâu đục ánh sắc đỏ lững lờ, xung quanh ruộng đồng sau vụ gặt nằm dài trơ trẽn. Lẳng lặng, tôi bấm chiếc Palm, tìm địa chỉ ghi trong bộ nhớ.

   Cách đây hai tháng, hắn chắc cũng như tôi, cũng nhìn xuống sông khi máy bay lượn vòng trước khi đáp xuống. Khi đó, là mùa gặt, ruộng chưa hoang vu. Cứ theo trí nhớ những đoạn văn học thuở vỡ lòng, thế nào mà chẳng  có  đàn cò trắng phau bay về đậu trên những  mô đất đợi những  hạt lúa rơi.  Hẳn là thế, khác thế nào được. Hắn xuống máy bay. Rồi hắn về một khách sạn nào đó, đưa hộ chiếu. Lên phòng, hắn viết nhật ký như một thói nghiện ngập. Ở đấy, hắn khôn ngoan chuyển qua e- mail  ngay về cho tôi, dặn giữ hộ, đất này lắm kẻ rình mò trấn lột, kể cả nhật ký. Hắn viết :

11-04-05

   ‘‘…chiếc xe Toyota của Việt Nam Air Line chạy chậm dần, chậm dần. Có người hô, xuống xe, sửa soạn qua cầu vào Kinh. Thế là nhốn nháo lên, xô đẩy nhau. Đặt chân xuống đất, tôi chao người suýt ngã. Đất bùn trơn như mỡ, mầu đỏ như mầu tiết lợn nhầy nhụa. Ngước lên, ô kìa,  sao lại  chỉ thấy toàn xe trâu kéo. Xe thồ đủ thứ. Giường, bàn ghế, tủ, nồi niêu, chăn màn... Nhìn quanh, thật lạ lùng. Mới đây là cô tiếp viên thơm mùi nước hoa Gucci. Bây giờ? Tôi hỏi đi đâu thế này? Có tiếng véo von khúc khích ‘’…anh giai ơi, ta di đô từ Hoa Lư về Thăng Long mà ‘’. Tôi quay lại. Cô bé gái vừa cất tiếng nói mở miệng cười, vết quết trầu đỏ thắm, hàm răng nhuộm đen tuyền như những hạt na ánh lên dưới nắng trưa ngột ngạt. Mùi cứt trâu bốc lên thối hoắc. Tôi đành bịt mũi. Mắt liếc như dao bổ cau, cô bé trêu ‘’...chưa về đến Kinh  mà anh giai đã văn minh ngay rồi à? ‘’. Thế là các cô đi xung quanh cùng ré lên cười lăn cười lóc.

   Chúng tôi nối đuôi nhau, chân bám vào bùn, tay xách nách mang trong tiếng cười nói tung bừng. Nhìn cô bé, tôi ngập ngừng : ‘’ ...lối này đi đến cầu Long Biên, phải không?’’. Cô ấy ngạc nhiên : ‘’ cầu gì thì em không biết, nhưng từ  Hoa Lư, trai tráng đã đến bến sông  đóng bè ghép lại tháng trước’’. Tôi buột miệng ‘’ cầu Long Biên do Tây nó xây, xưa gọi là cầu Đuy-me…’ Cô bé lại ngặt nghẽo ‘’  thôi đừng lỡm em, anh giai…Anh người trại  nào? ‘’. Ngây người, tôi không biết trả lời làm sao. Cô bé thấy tôi im lặng, nguýt dài, lại trêu‘’ chẳng phải ngô, chẳng phải khoai…Chàng đi em biết nhớ ai, em chờ’’. Nói xong, cô chạy ra sau, miệng nói với lại ‘’ có hỏi thì hỏi họ Đào , tên  Hạ Trang,quê ở Đống Hải  nhé….’’.

   Xe trâu phải vòng xuống hạ lưu, nơi nước cạn ngang lưng để sang sông. Đoàn người khoác gùi trên vai trèo lên những mảng bè cột chặt bằng những sợi trão làm bằng vỏ cây trồi bện lại. Sang đến bờ bên kia, lại phải chờ xe trâu. Trời xẫm xuống. Mặt trời tím lịm phớt lên mặt nước mầu hoa cà se sẽ chao đi trong gió chiều. Một kỵ sĩ cưỡi con ngựa ô ở đâu trờ tới, nhẩy xuống, đến thì thào vào tai cụ già râu trắng như cước. Ông cụ nói lớn cho mọi người nghe, ‘’ qua đêm ở đây, mai tốt ngày mới  được phép vào Kinh, nghe chưa!’’. Đoàn người ồ lên, rồi chia nhau tìm những gò đất khô ráo. Họ túm năm tụm ba thổi lửa, nấu cơm,thỉnh thoảng có kẻ cất tiếng hò lên gọi nhau. Tìm một gốc cây, tôi ngả lưng, nhắm mắt nhưng chẳng  sao ngủ được. Không ngờ thoắt một cái tôi từ đầu  kỷ 21 đi ngược gần 1000 năm để quay vể thời nhà Lý đang dời đô đến Thăng Long. Thật hay mơ? Không, mùi cứt trâu thối hoăng lên có thật. Tôi đưa tay sờ mặt đất ẩm bùn, bốc một bốc, bóp vụn ra. Đất rơi tơi tả. Đất có thật. Tôi xuống bờ sông rửa tay. Bùn đất trôi đi, tay tôi sạch, và thế là nước có thật. Đất nước có thật, nhưng còn cô bé Hạ Trang họ Đào? Tôi đứng lên, tản bộ đi tìm. Đêm len vào bịt mắt cản đường. Cứ thế, tôi bước, tôi chong mắt nghếch cổ ra nhìn. Không thấy Hạ Trang đâu. Có thể Hạ Trang không có thật. Hoặc là tôi đã quay về kỷ 21, thời điểm cách lúc này chưa hơn vài giờ trước khi tôi lên máy bay ?Hoặc giả chính tôi không có  thật ?’’.

 

hai

   Đúng như hắn dặn dò, tôi hỏi lấy phòng 403 hoặc 503 tại khách sạn BK. Cô bé tiếp viên lật  hộ chiếu, ghi chép, nheo mắt hỏi ‘’ anh về nước lần đầu?’’. Tôi lắc. ‘’ Ai bảo mà anh biết phòng 403 mà đòi ở đó ? ‘’ . ‘’  Một người bạn, anh ta về ở đây độ hai tháng trước, bảo tôi thế!’’. Nhân dịp, tôi hỏi ‘’ Anh ấy thấp người, đeo kính trắng, cũng đến từ Canada…Em  có gặp anh ấy không?’’. Cô bé lắc đầu, mời tôi xuống Bar  ở tầng dưới uống nước, đợi cô làm thủ tục nhận phòng. Trưa, trời hầm hập, mồ hôi đổ ra như tắm hơi. Đợi đâu mươi lăm phút, điện thoại từ tiếp tân gọi xuống. Tôi lên. Bà quản lý khách sạn, tuổi sồn sồn, tươi cười ‘’ …chúng tôi tiếp thu nhu cầu của khách, nhưng phải tính tiền dịch vụ,  chỉ năm đô thôi’’.  Ngạc nhiên, tôi hỏi ‘’ Phòng trống thì để tôi ở, còn dịch vụ gì…’’. ‘’ Dạ, khách thích mà được chúng tôi thỏa mãn thì trả phí, ở đây như thế. Thoả mãn được, là ở quyền hạn  quản lý của chúng tôi mà...Năm đô là lần này thôi, giá phòng thì vẫn  20 đô một ngày, như mọi phòng khác! Phòng 403 là phòng tốt nhất đấy, vừa yên, lại nhìn được ra hồ…’’. Cố lấy vẻ thản nhiên như không có chuyện gì lạ, tôi lẳng lặng thò tay móc túi.

   Nhoài người nằm thườn ra, tôi nhắm mắt lấy lại sức. Ngồi trên máy bay gần hai mươi giờ, không kể thời gian đợi chuyển máy bay ở Tokyo, những bắp thịt trong người nhừ ra như bị giần, đầu không còn sức đề kháng, tôi gần như mê mụ. Nửa thức nửa tỉnh, tôi chợp đi, tai nghe loáng thoáng tiếng hắn  nghiêm trọng ‘’ Sắp tìm thấy nó rồi, hãy về giúp một tay, cần lắm ! ’’, hệt như trong cái  mail  cuối cùng tôi nhận được cách đây vài tuần.

   Người ngoài tưởng tôi và hắn là anh em ruột, nhưng không phải vậy. Tôi vốn là một đứa con rơi, bố mẹ nuôi tôi nhặt về trong vụ đói năm Ất Dậu. Khi đó, hắn mới lên hai. Mẹ nuôi tôi nựng hắn, chỉ tôi, bảo… cho con có bạn. Còn bé, tôi nào hiểu tôi là một thứ đồ chơi. Đến năm lên sáu, tôi mới biết. Phận tôi, nó thế. Bài học đầu tiên là phải biết cam nhận. Khi nó cắn cấu, chỉ được khóc. Và chạy. Khi ăn, nhận phần ít. Và có thèm chút âu yếm thì lần xuống nơi U  già, một người đàn bà lớn tuổi mắt đã lòa thường ngồi ở góc bếp chẻ rau, vo gạo…Thỉnh thoảng U giấu được cái bánh, cái kẹo, giấm giúi vào tay, giục…’’ ăn đi, cho U xem!’’. Mắt lòa, U nào thấy gì! Nói thế nhưng tôi chẳng oán trách gì bố mẹ nuôi.  Không chết đói, đã là may lắm, U thỉnh thoảng dặn tôi đừng quên. Chẳng qua phận tôi nó thế!

   Nhưng  cũng vì thế mà tôi thực tế. Từ năm lên mười, tôi hiểu để tồn tại, tôi phải mở mắt ra nhìn  những người chung quanh. Họ thế nào? Ai thương ai, ai ghét ai? Và nhất là đối với chính mình thì họ ra sao? Tôi không  tranh ăn, tranh chơi, lỉnh đi khi bố mẹ nuôi tôi phát thuốc tễ, thuốc bổ…cho đám bốn đứa con đẻ. Tôi biết nhanh nhẩu góp tay vào bất cứ chuyện gì làm được, nhất là khi bố mẹ nuôi tôi có mặt. Tôi cố gắng nói thật ít, không bao giờ tỏ ra  ranh mãnh, che giấu tất cả bằng thứ cung cách ngu ngơ hiền lành. Được đi học, lại học cùng lớp, tôi làm sao cho điểm của hắn lúc nào cũng nhỉnh hơn điểm của tôi, tránh thành đối tượng của so đo ganh ghen…Tóm lại, tôi không còn tuổi thơ, sống hai mặt, một là tôi ngày một nhợt nhạt, và mặt kia là tôi dưới mắt người khác, ngày một đậm nét và đôi khi trở thành thứ quán tính mất hết kiểm soát. Nhưng  chỉ khi chỉ có tôi đối mặt với tôi, tôi vẫn giữ được một góc mơ mộng. Nghĩ về thân mình, tôi tưởng tượng gốc gác tôi là con một vị quan lang Mường ở  chân núi Tản. Cha đẻ tôi cầm đầu dân quân chống Pháp, tử thương trong một trận giáp chiến. Mẹ tôi  bế  tôi  chạy đến một ngôi chùa, bỏ tôi  đấy rồi  nhảy xuống  giếng tự vận.  Sư ông chùa tôi đặt tên là chùa Thiên Phương ở Lạng Sơn nhặt tôi, rồi vì nhà chùa nghèo không đủ ăn nên phải tìm người khá giả nhờ nuôi. Thế là cái duyên đến buộc tôi vào gia đình bố mẹ nuôi tôi, lúc ấy  tản cư từ Hải Phòng. Họ Nguyễn là họ của bố nuôi tôi. Tôi họ gì? Tìm đọc sách nói về dân tộc Mường, tôi tự cho tôi  họ Bạch. Vâng, tôi  họ Bạch, nhưng nay thất cơ lơ vận. Và để tạo cho tôi  cái hứng thú sống với mặt tôi  gọi là mặt kia của thiếu niên họ Bạch này, tôi  cho  tôi  đóng vai  một  điệp viên nhị trùng, xông vào cuộc  đời với một  nhiệm vụ còn nằm trong bí mật nên chưa ai tiết lộ cho biết. Trong khi chờ đợi, tôi nhận lệnh phải học hành thế nào cho giỏi, đợi ngày thoát ly. Và  động cơ ấy khiến tôi chong đèn, học, nhưng học kín, không để ai dòm ngó.

   Thời niên thiếu của tôi đầy những phút trạnh lòng tủi phận. Nhưng giấc mơ cao bay xa chạy một ngày khiến tôi âm thầm trui rèn thứ võ khí thoát thân là học thế nào để có cái may mắn  được một học bổng đi ra ngoại quốc. Đó là mơ ước hình như bọn trẻ chúng tôi đứa nào cũng có. Ở tuổi 15, 17, chúng tôi  có thể bị gọi đi quân dịch nếu thi trượt, đỗ Tú Tài 1  thì đi Thủ Đức ra trường thành Chuẩn Úy, không thì Quang Trung, chẳng  cai chẳng  đội tất binh nhì, thế nào cũng bị đem  ‘’thí chốt’’  nếu không chạy chọt. Chiến tranh đã luẩn quẩn tới ven Thành Phố. Sợ chưa hẳn sợ, nhưng vui thì chẳng mấy vui, đối với một kẻ như tôi, thực tế, chỉ giữ cho mình một hoang tưởng về thân thế, và chỉ có một giấc mơ là ra đi. Nhưng hắn, không vậy. Hắn là con đầu lòng, được nưng như nưng trứng, hứng như hứng hoa. Hắn hay ngồi ‘‘chầu rìa’’ hóng chuyện ‘‘người lớn’’. Chả là bố nuôi tôi quen biết giới báo chí truyền thông, khi gặp nhau‘‘người lớn’’  bàn chuyện chính trường thời Đệ Nhất Cộng Hòa miền Nam, chuyện chống Cộng, rồi chuyện đám nhân sĩ Bắc di cư bị chính quyền Diệm hắt hủi…Hắn được mớ chuyện chính trị tiêm mhiễm, tự cho mình một phận vụ  thiêng liêng, tìm sách về nghệ thuật hùng biện trước công chúng, soi gương hoa chân múa tay tập nói cái câu của Tổng Thống Mỹ Kennedy, nhưng bằng tiếng Việt, ‘’ đừng hỏi đất nước làm chi cho ta, mà phải hỏi, ta đã làm gì cho đất nước…’’. Tôi cố nhịn cười, tránh tham gia vào những dự án đổi đời của hắn. Không nhúm được ngọn lửa thiêng trong lòng tôi, nhưng có lẽ thương hại, hắn chỉ thỉnh thoảng nhắc chuyện chí làm trai, xuống Đông, Đông tĩnh, lên Đoài, Đoài tan.  Phải nói hắn thuyết phục được một số bạn bè cùng lứa,  và viết lách in thơ in truyện trên báo.

   Năm ấy là năm học sinh sinh viên ‘’ xuống đường’’ trong vụ đàn áp Phật giáo của chính quyền Diệm. Trong thành phố, giáo dân và Phật tử xung đột tứ tung. Tin rỉ tai : sắp đảo chính. Hắn không biết thế nào mà ‘’mua’’  được một số vũ khí của Điạ Phương quân, đem chôn giấu chục khẩu súng trường thời đệ nhị thế chiến, dăm quả lựu đạn… chờ thời cơ khởi nghĩa ‘’ chống độc tài Diệm-Nhu’’.  Vô tình biết chuyện khôngphải chuyện đùa này, tôi buộc phải báo bố nuôi. Ông ta cho hắn một trận mắng chửi ra trò. Chỉ kịp chỉ mặt tôi quát ‘’ đồ mách lẻo’’ thì đã có người đến hỏi hắn. Hóa ra tôi chẳng mách thì mật vụ Nhu-Diệm cũng đã biết, cho rình rập quanh xóm. Thế là bố nuôi tôi phải tìm cách giấu hắn lên Hóc Môn. Và hè năm đó, hắn không thi Tú Tài 2. Đây là lần đầu tôi học, và đi thi, không có hắn bên cạnh. Chạy chọt với công an, bố nuôi tôi lại mang hắn về Sài Gòn đhắn thi kỳ  2, đỗ nhưng điểm không vào hạng xuất sắc. Làm cách mạng, chuyện học thứ yếu thôi, tất nhiên.

   Năm sau, tôi lẳng lặng nộp đơn và nhận được một học bổng đi Canada. Đợi đến khi chỉ còn một tháng là lên đường, tôi mới báo cho bố mẹ nuôi tôi biết để xin phép đi du học. Lúc đó, tôi đã 18 tuổi, là thành niên rồi,  đi hay ở chỉ tùy tôi. Ngày đầu, bố mẹ nuôi tôi không nói gì, vui buồn khó đoán. Phần tôi, tôi sửa soạn hành lý, mặc dầu chẳng có gì để mang theo trừ một xấp thư của N tôi mới gặp hè qua. Ít ngày sau, bố nuôi tôi thân mật ôm vai, nhỏ nhẹ : ‘’ tao định cho anh mày đi cùng, nhà không dư giả nhưng cũng có thể lo được một phần chi phí. Đi xa có anh có em, học bổng của con  cũng là cái đỡ đần được…cho bớt lo. Anh mày ở đây thì còn rầy rà với mật vụ, sớm muộn chúng nó cũng tìm cách đẩy vào lính cho mà xem…Con thấy thế được không?’’.

   Tôi lên đường. Lần đầu ngồi máy bay, tôi ngắm  những đám mây trắng ngang tầm mắt, không thấy luyến tiếc bất cứ gì. Giấc mơ suốt thiếu thời đang chắp cánh vượt  những khoảng xa tôi ngợ chẳng bao giờ lấp cho nổi. Ba tháng sau, hắn cũng đến Quebec, nơi tôi đi học. Khi đó, chính quyền Diệm-Nhu bị lật, cả hai bị bắn chết. Chắc chắn hắn không còn bị mật vụ nào rầy rà. Hắn lấy hộ chiếu, đi dạng tự túc, hớn hở kể ngày cách mạng thành công và kết ‘’ tiếc là không có mi ở đó, vui lắm…’’.

*

 Ngủ mê mệt, khi tôi thức thì trời đã chập choạng tối. Với tay rót một cốc nước, tôi uống, đầu óc tỉnh táo dần. Tôi lên sân thượng Khách Sạn, ngồi hóng gió, gọi mộtchai Ashahi, đưa mắt nhìn về phía bờ Hồ . Những trụ đèn đã mọc lên, khác thời tôi về Hà Nội mười năm trước. Uống xong cốc bia, tôi  mở Palm xem tin nhắn. Không có gì. Tôi lại tìm đọc  những bức e-mail lưu trữ :

20-02-05

‘’ ... Chúng nó báo sẽ về nhưng lần ra Huế không hiểu sao tôi lại không gặp. Lần đó, dân đồn ‘’ông về’’, nô nức trả tiền vé vào để chiêm ngưỡng’’ Ông’’, đấng sẽ thế thiên hành đạo. Báo chí có loan tin (dĩ nhiên với  hoài nghi của  những  kẻ thực dụng làm báo phải đạo chính thống), và mặc dầu hy vọng là thật, tôi vẫn giữ vẻ e dè, cùng đám nghệ sĩ thuộc ty văn hóa đất Thần Kinh lên đò sông Hương,đi  nghe hò Huế trong một  đêm tối trời có đủ mưa, đủ gió, và  những người  đàn bà giọng mặn mà nữ tính của đế đô xưa.

   ‘’ Thuyền từ Đông Ba thuyền qua Đập Đá. Thuyền rời Vĩ Dạ tới ngã ba Sình….Lờ đờ bóng ngả trăng chênh …Điệu hò xa vắng đượm tình nước non ’’ . Giọng ngân dài như không dứt được trong khi chúng tôi đợi người đi dò  tin ‘’  Ông’’ vẫn chưa về. Mưa vẫn mưa rơi, tiếng tí tách buồn bã. Mặt sông lấp loáng ánh dao liếc lạnh rùng rợn. Người đàn bà vừa dứt câu hò nhìn tôi, lo lắng : ‘’ Ông về thiệt hỉ, anh?’’. Ôi đôi quầng mắt thẫm bóng những đêm dài ngước đợi. Tôi nhỏ giọng ‘’ Về...’’ Ông’’ sẽ về, nhất định thế!’’. Bàn tay nào mượt mà nắm lấy tay tôi, mơn man, như đòi vỗ về, như nhắc một chút ân tình đến từ một  mối duyên chẳng ai chờ ai đợi. Nhắm mắt, tôi khẽ nắm lấy bàn tay ấy  thay lời cảm ơn, giật mình khi người đi kiểm tin ‘’ông về’’ đột ngột xuất hiện, miệng cười hô hố, nói lớn :  ‘’ Không có ‘’Ông’’  nào đâu. Một  đồn mười, mười đồn trăm, dân xếp hàng mua vé 5 ngàn đồng vô xem ông cầm kiếm, miệng giáng những câu tiên tri. Nhưng tui  chỉ thấy  hình ảnh phập phồng một cái mang cua sống, khá lớn, nhìn có thể tưởng tượng là người cầm gươm, nhưng đâu có nghe thấy chi! Một con nhỏ xưng là cô đồng thì nghe thấy hết, nói lại cho người  vô xem. Nhưng công an Thừa Thiên bắt nó tội dùng mê tín dị đoan làm loạn lòng người, và bắt cả chủ nhà tội lừa đảo, buộc hoàn lại tiền vé ...’’.

   Tôi nghe một tiếng  thở dài bên cạnh. Bàn tay đó buông tay tôi ra. Tôi với chụp. Vô vọng. Gió lên. Tiếng chèo khuơ nước nhịp thời gian. Trời chợt trở lạnh hơn bao giờ. Tôi biết  tôi vẫn còn phải đi tìm…Người đàn bà vừa nắm tay tôi đứng dậy, bước  những  bước  chòng chành lên bờ, để lại cho tôi đúng một cái nhìn ánh màu tuyệt vọng ...

           Không, tôi ơi, đừng tuyệt vọng. Câu hát của người bạn rong ca  vang lên. Chết, mới tuyệt vọng. Chúng ta chưa có niềm ân sủng cho phép phủi tay ra đi. Và nhất là tôi lại vừa mang ơn một bàn tay níu vào tay mình trong khoang con thuyền chòng chành gió. Mới năm nào tôi  viết : Nhan sắc vẽ vời / Lý tưởng viển vông/ Chợt rụng rời giữa có và không/ Mày xanh mi biếc môi hồng/ Tỉnh ra sóng đã bềnh bồng cuộn trôi/ Tôi ơi hỡi, tôi ơi! Mới năm nào tôi đã định tự đi vào miên viễn mà không hỏi phép bất cứ đấng Cao Xanh nào. Nếu chỉ đến từ một niềm tuyệt vọng thì tôi ơi, tôi chỉ đáng có đến thế sao. Trong khi từ đỉnh non đến ven biển đấu trường với toàn những kẻ trục lợi tranh danh đang âm thầm tuốt kiếm chém  những nhát không khoan nhượng vào đồng loại? Trong khi  những người nắm thế quyền đoạt nhà chiếm đất rồi bắt hằng hà sa số nạn nhân cùng nhau hát vang lên bài ca cho ngày mai?

   Không thế được, tôi ơi, đừng tuyệt vọng!

   Suốt ba ngày, tôi đợi tin Rậm-ria  và Tiểu-quỉ. Tôi lang thang trên  những con đường của Huế. Qua cầu Tràng Tiền, ghé chợ Đông Ba, đến Gia Hội… Vòng lại Bến Ngự,  ngơ ngẩn ngắm bức tượng Phan Sào Nam xếch mắt nhìn vào tiền đồ. Rồi tôi lại đi. Vào Hoàng Thành, ngơ ngác giữa đám du khách. Tôi luẩn quẩn với một quá khứ nặng như  chì buộc vào chân. Tôi lê về phía trước với  những bộc phá bom đạn còn ghi nguyên vết ghẻ lở đậu mùa chi chít khoét đục những bức tường cổ đổ nát. Tôi đến chân Khiêm Cung thì gặp người đàn bà tối nọ. Đến gần, người đàn bà ấy làm như không thấy tôi, cúi mặt nhìn những bó hương bó nhang để cạnh chồng giấy vàng giấy bạc. Nàng thoa chút phấn hồng trên má, môi thoáng vết son rất dịu, mắt vẫn đẫm bóng tối ngay khi nắng lên ngang đầu. Tôi im lặng. ‘’Ông’’ không  về, tôi biết. Nàng ngước lên cười, cái cười không kém thê thảm lần nàng nhìn tôi  khi lên bờ tối hôm nọ. Thình lình, nàng bâng quơ : ‘’ Ai tìn được cho em hy vọng, em xin làm vợ, hiến thân này cho, cho hết ...’’.  Tôi hốt hoảng. Lát sau, tôi nghẹn ngào,  cố nói ‘’ Tôi về là để tìm điều đó cho em, cho tôi,  cho  tất cả chúng ta…’’. Nàng khẽ quay người, thì thào ‘’  thì anh đi đi, chừ cứ đứng đó làm sao thấy!’’. Từng câu, từng chữ, nàng thuật lại cho tôi  chuyện người ta đổ đi tìm ở dưới Mỹ Sơn, nơi cách Hội An  đâu hơn hai ba chục cây số. Rồi giục ‘’... chừ anh đi nghe anh! Bữa mô tìm thấy thì về đây với em!’’.

   Sáng sớm hôm sau, tôi bắt xe hàng xuống Đà Nẵng.

*

   Lần theo bản đồ chi chít tên đường, tôi tìm được phố Lý Quốc Sư. Trước mặt một quảng trường, Nhà Thờ nghễu ngện chọc trời, tường sám sịt dấu vết những tháng năm không chăm sóc tu bổ. Dưới nắng rừng rựcc chực bốc lửa, tôi vội bước, nhìn số nhà rồi rẽ vào một cái ngách. Chục năm trước, tôi có đến đây một lần nhưng bây giờ chẳng còn nhận ra gì nữa. Quán rượu ngày xưa nay là căn nhà ba tầng bằng gạch, cửa sắt khóa bằng một sợi giây xích sắt to bằng ngón tay cái. Tôi bấm chuông. Một đứa bé ra bảo ‘’  ông cháu đau, không xuống được!’’. Tôi nhờ cháu lên gác báo, khẩn khoản dặn : ‘’ cháu cứ nói thế, chắc ông cho gặp! ‘’. Quả vậy. Uốn người, tôi leo một cái cầu thang hẹp, bậc không  đều, cao thấp khó lường. 

   Nhà thơ ngước mắt nhìn tôi. Ông ta đây sao? Mười lăm năm trước, ông đã đứng tuổi nhưng vẫn cường tráng mặc dầu khi tôi gặp, ông mới bị quản chế  đâu gần 3 năm vì cái tội chính thức là bán rượu lậu. Tội không chính thức, ai cũng biết, là tội chuyển thơ của ông ra ngoại quốc. Chính hắn cũng bị liên quan. Bị cấm cửa không có nhập cảnh cho tới thời kỳ Đổi Mới mới lại được về, hắn nói hắn oan, có tội thì là cái tội gà chưa sáng đã gáy, kiến nghị chính sách kinh tế gì đó. Nay, tóc ông bạc phau, móm mém, mắt lờ đờ, nằm nghiêng phì phò thở.

-            Nhà thơ chắc không nhận ra…tôi!

Ông lắc. Tôi nhắc lại buổi tôi gặp ông với hắn cách đây mới thế mà đã mươi lăm năm. Ông mỉm cười :

-            Lâu nhỉ! Mình trí nhớ kém rồi…Lại mới ngã cầu thang, xương chậu bị vỡ, ngồi lên không  được! Xin lỗi phải tiếp khách trong cái thế khó coi này, ông khẽ cười.

Hỏi ông đã gặp hắn chưa, ông nhắm mắt, đáp :

-            Bao giờ về cậu ấy cũng đến thăm tôi. Tết vừa qua, cậu ấy từ Đà Nẵng vào…

-            Anh ấy cũng dùng điện thư báo anh ấy đi tìm chùa Báo Thiên…Thưa nhà thơ, chùa ấy ở đâu?

-            À…Chùa xây đời Lý, bị phá cuối thế kỷ trước…Người Pháp xây Nhà Thờ Lớn ngay trên móng nhà chùa, ở góc phố.  Làm gì còn chùa Báo Thiên ? Khi cậu ấy hỏi, tôi đã  bảo vậy!

Tôi cân nhắc, rổi ngập ngừng :

-          Nhà thơ có biết anh tôi đi  tìm gì không?

-            Biết…

-            Nhưng đó là một niềm hoang tưởng…

Tôi nhẩn nha kể lại cho nhà thơ nghe nội dung  những bức e- mail   tôi nhận được và kết luận :

-            Sợ  anh ấy hoang  tưởng  ở  mức bệnh  hoạn…Cho nên tôi mới về gấp!

Nhà thơ mỉm cười, từ tốn :

-            Đừng sợ. Một thứ vật quí hiếm như vậy, có hoang tưởng thì cũng tự nhiên thôi. Vả lại, người nghệ sĩ nào chẳng hoang tưởng. Động cơ tái tạo mọi hiện thực phải rẫy bỏ để giải phóng sáng tạo… Hoang tưởng càng lớn thì khả năng nghệ thuật càng cao.  Như cái cái nghiệp ấy mà!

Ngưng lại lấy hơi, nhà thơ thều thào tiếp :

-            Lấy cái số phôn  của Thụy, gọi hỏi thăm xem….Tay này giao du rộng, cũng quen biết anh cậu.

 Bấm đốt ngón tay, ông lẩm nhẩm một  mình :

-         …thế là ba tháng nay không thấy mặt,  chẳng hiễu đã  tìm ra  chưa, rõ cơ khổ!

   Ra đường, tôi vòng lại Nhà Thờ. Đứng dưới mái hiên một cửa hàng bán Mỹ Nghệ cho khách du lịch, tôi ngước nhìn cây Thập Tự cao vút chọc vào nền trời sáng lóa mắt, tưởng tượng cảnh xe bò chở tượng Phật đi để lấy tượng Chúa thay vào thế chân trong  một cuộc đuổi nhà đổi chủ. Thế quyền và tâm linh phải chẳng là hai mặt một đồng xu trong một thể cân bằng không bao giờ ổn định.  Đống xu quay sau cái búng tay của tên làm ảo thuật, quay tít thò lò, và tiếng hô, ‘’ nào đặt cược nào, xấp hay ngửa! ‘’.

   Khát đến khô cổ, tôi vào một quán giải khát. Chọn một góc trống,  ngồi mở Palm đọc lại  những  bức  mail .

*

          Mất ba ngày tôi mới liên lạc được với Thụy. Anh ta đi quay phim  ờ Quảng Bình, về  đến Hà Nội  mới mở e- mail , nhận tin tôi và gọi điện thoại. Hỏi, anh đáp :

-            Tôi gặp anh ấy đâu tháng trước, cùng  đi với hai người bạn! Tôi không biết tên, nhưng một cậu cao to, để râu, nói giọng Bắc. Còn cậu kia, trẻ hơn, da trắng như da con gái, nói eo éo, giọng lai nửa Bắc nửa Nam…Hình như họ là Việt Kiều cả. Họ rủ nhau đi  tìm…

-            Tìm gì hả anh ?

-            Chịu, giời mới biết được!   Chỉ thấy họ nóng nẩy ra mặt. Họ hỏi tôi cách xuống đáy núi Nùng, và làm thế nào móc nối được một người  dẫn  đường… Tôi giới thiệu một tay  xưa là đặc công, từng xung phong vào chiếm Tân Sân Nhất  ngày Giải Phóng!

-            Rồi sao, anh ?

-            Sau  thì  tôi đi xa nên không biết gì thêm.  Nhưng anh đợi tôi hỏi thăm cô bé Trang xem sao. Tôi gặp anh ấy uống bia với cô Trang chỗ nhà Thủy Tạ ở ven hồ…Chỉ sợ cô ta về quê rồi!

-            Vâng, mong anh giúp cho. Tôi lo, anh ấy …có vẻ không mấy bình thường!

-            Lo gì cơ ? 

Không muốn nhắc đến  những bức mail  quái lạ, tôi đáp:

-            Anh tôi bị tiểu đường, thuốc insulin mang theo lại hết!

-            Ở đây thì cứ có đô xanh là cái gì cũng có…

*

 

21-02-05

   … từ Lăng Cô nhìn xuống, cây xanh lấp loáng nắng vạch một vòng chặn biển sóng uốn lượn cứ như chực tràn vào đất. Xe khách ngừng nửa  giờ. Tây-ba lô xuống xe, tay lắc lắc khi đám trẻ con bán Postcard chồm đến, mắt ngước lên nhìn, miệng răng khấp khểnh nhấp nhô  ngọng nghịu “pho taodần, bli-bli” ( four thousands, please, please). Đến Đà Nẵng, tôi  ghé vào Bảo Tàng Chàm nằm gần bến sông, định mua một tấm bản đồ Mỹ Sơn, xưa là thánh địa của dân tộc đã gần như bị xóa sổ này. Cô bé bán hàng lưu niệm lắc đầu, bảo tôi ra nhà sách. Gọi taxi, tôi vừa nói thì anh tài hỏi liền “ Việt kiều hỉ! Hổng có chỗ nào  bán bản đồ đâu, đi mô tui chở cho! ”.  Đi đâu?  Nói thế nào bây giờ? Tôi vừa kể tôi nghe đồn là có nhiều người đi kiếm thì anh tài cười lớn: “Rồi, tui biết! Đi đào vàng phải hông?Nhưng tui chở chú tới chớ có được vô đào hay không thì còn phải qua “ải” mấy trùm, tui không bảo đảm”. Anh hạ giọng:

-            Ở đây thì cứ có đô xanh là cái gì cũng được, lo chi …

   Xe chạy được khoảng gần một giờ,  đỉnh tháp Chàm nhô lên từ đầu  những  ngọn cây xa xa khiến tôi hoang mang. Tôi đâu có ý định đi tìm vàng. Mặc dầu anh tài “xin” thêm năm đô để giúp tôi móc nối với đường dây một ông trùm anh nói anh quen thân, tôi vẫn không mấy yên lòng. Chắc chắn ông trùm sẽ hỏi, không tìm vàng thì tìm chi? Trả lời thế nào nghe cho xuôi tai đây? Thôi, để hạ hồi, linh động đối phó chứ làm sao biết được mọi tình huống! Anh tài chì một rặng núi xanh đen đằng trước, kêu : ‘’  trong kia là chỗ mình tìm đó, chú ! ‘’.

Đến eo núi, anh tài thắng xe, móc điện thoại di động, không nói gì nhưng bấm viết tin nhắn. Lát sau, chuông reng. Anh mở máy, nghe rổi đáp, quay lại cười với tôi, miệng nói ‘’OK, cho zô rồi’’. Anh rồ máy, quẹo xe  vào một con dốc bề ngang rộng hơn chiếc xe chừng hai mét, nhấn ga leo lên. Đi chừng ba trăm thước, có một người vai đeo AK ở đâu xô ra, tay làm dấu, quát : ‘’ ngừng!’’. Mắt trừng trừng, anh ta bảo chúng tôi xuống xe. Anh tài ghé vào tai thì thào thế nào mà anh ta gật gật. Thanh toán tiền xe xong, anh tài lên xe vòng về,  cười chúc may mắn. Tôi theo anh gác cửa đi vào con đường bụi bờ quanh co chân núi, lát sau đến trước một cái lán. Lại một người khác đeo AK trỏ tay vào cái ghế đẩu trong góc, lạnh lùng nói gọn ‘’ chờ đấy!’’ rồi quay lưng châm điếu cầy rít  thuốc, tiếng kêu sằng sặc như bị bóp cổ.

Lúc ấy, mặt trời xế bóng nhưng vẫn nóng gay gắt. Tôi xin một ly nước, lẳng lặng uống, mắt nhìn về chỏm tháp Chàm lung linh chớm nắng. Nhớ lại câu nói của người đàn bà hôm rời Huế, tôi buột miệng ‘’ chắc anh sẽ về, chỉ mai mốt… ’’. Anh gác nghe, cười khẩy ‘’ muốn thế thì đừng để rắn cắn, rắn độc nhất là rắn mang hình người!’’. Được thể, tôi bắt chuyện, hỏi. Anh ta giảng giải ‘’ ai đào được vàng thì kẻ đồng loại bên cạnh trở thành rắn ngay, có lần hết người nọ đến người kia  hóa rắn, cắn nhau cướp vàng chết cả đàn. Giọng thương hại, anh tiếp - vì vậy, người ta  đi đào đi một tốp năm ba người. Anh đi một mình thì đào không thấy là sống, mà thấy thì chắc toi, hiểu chưa?’’.

-            Nhưng tôi có định đi đào vàng đâu! Tôi buột miệng.

Anh gác hạ khẩu AK trên vai xuống, lùi một bước, mắt lừ lừ nhìn tôi như thôi miên. Chết chưa, tôi đã nói thật, nguy rồi…

*

   Đầu tháng 6, Hà Nội là lò lửa nung cho thân người chảy thành nước. Ngủ không được. tôi dậy từ lúc trời còn chập choạng tối, lên sân thượng khách sạn ngồi.  Nhìn xuống, nước hồ Hoàn Kiếm lóng lánh gợn ánh đèn quanh hồ, tháp gươm mơ hồ ẩn hiện. Bên kia,  chiếc cầu sơn đỏ bắc vào đền Ngọc Sơn nhìn như vết cong một làn môi thiếu phụ. Thỉnh thoảng, dăm ba người lầm lũi bước, bóng khấp khiểng trên hè phố. Lòng đường vắng xe thật khác, an bình chứ không  dọa dẫm, và thật là thần tiên khi không nghe tiếng xe máy khằng khặc hầu như suốt ngày, từ   sáng sớm cho đến quá nửa đêm. 

   Quái, có tiếng gà gáy nghe ngay giữa thành phố. Trời sáng dần. Bóng người lao chao trên con đường ven hồ. Hàng đoàn, họ đi ngược, đi xuôi. Tiếng người bắt đầu xôn xao. Tôi xuống đường, nhập vào đám đông, đi theo đoàn người chuyển động theo chiều kim đồng hồ. Họ bước  những bước dài, hít thở theo nhịp chân, nét mặt còn chút thư giãn đầu ngày. Ở  những quãng rộng, có người chăng lưới đánh cầu lông. Gần nhà Thủy Tạ, hơn ba chục người xếp thành ba hàng, tay đưa lên, chân co vào, chuyển mình theo tiếng của ai đó gọi tên thế múa  những   bài quyền Thái Cực.  Tôi bước. Người bên cạnh bước. Người đàng trước  bước. Người đàng sau cũng bước.Thật là an toàn khi có  những người, hệt như mình, cùng một động tác, cùng một hướng đi. Khỏi phải nghĩ. Cứ thế mà tiến đến phía trước, như mọi người. Cùng với mọi người. Cảm giác chỉ là một thứ hạt cơ bản quay vòng vòng mà không cần gì đến ý thức khiến tôi lâng lâng bay bổng. Cứ thế, tôi để tâm trí trống rỗng trên quĩ đạo  những bước chân vòng vòng quẩn quanh, cứ đúng 30 phút lại quay lại khởi điểm là chân cầu Thê Húc.

   Đi đến vòng thứ sáu, hạt cơ bản bị một cái sốc ngoại sinh. Đó là một con bé con khoảng mười hai muời ba tuổi. Tôi thấy nó lê la  ở góc phố Hàng Trống và Bảo Khánh, nơi tôi ghé uống cà phê mỗi sáng. Không biết từ lúc nào cái hạt bé bỏng đó bước theo bước chân tôi, nhưng đến vòng thứ sáu nó mới níu áo tôi lại, miệng nói:

-            Chú không mệt hả?

Tôi chậm chân, lắc đầu. Vẫn bước, tôi bảo:

-            Mỗi sáng đi bộ thế này tốt lắm…Nhất là khi chưa xe cộ, không khí còn thở được!

-            Chú cho cháu tí tiền ăn sáng nhé. Nó ráo hoảnh - …đi  theo chú đến đói giã họng ra, tí nữa thì hụt hơi!                      

-            Ai bảo theo mà theo…

Tôi ngừng bước, tay móc tiền đưa cho con bé năm nghìn.

-            Có thế thôi hả chú Việt Kiều ?

Cơn bực mình ở đâu ùa đến. Làm sao nó biết mình là Việt Kiều? Năm nghìn chưa đủ thì bao nhiêu mới đủ? Tôi nhìn vào mặt con bé. Nó đen đủi, mắt to, mũi hơi hếch, tóc  kẹp, miệng hé ra cười duyên.

-            Sao mày biết tao Việt Kiều? Bát phở Thìn ở bên kia đường chỉ tám nghìn, cho mày năm mà còn chưa đủ à?

Con bé nghếch mặt:

-            Chú Việt Kiều thì dễ biết quá, chỉ Việt Kiều mới ở khách sạn. Còn như muốn ăn bát phở thì không đủ, chú biết đấy. Nó chìa tay, giọng nũng nịu -  chú cho thêm ba nghìn đi!

Tôi lắc đầu, giật áo bước đi  không ngoái lại. Loa phát thanh của khu phố lúc đó oang oang đọc  tin buổi sáng. Tôi không  nghe. Và hình như cũng chẳng  ai nghe, người  đi bộ vẫn bước, người  múa quyền Thái Cực vẫn co chân giang tay. Đám đánh cầu lông cãi cọ được  thua, có kẻ sẵng giọng văng tục. Anh công an đứng nhìn, tủm tỉm cười. Xe máy bắt đầu lượn vòng, mùi xăng xông lên. Tôi đến góc Lê Thái Tổ và Bảo Khánh. Một cụ bà lưng còng nhấp nhổm qua đường, mắt toét nhèm, đầu lắc lư nhìn ngang nhìn ngửa. Tôi bảo cụ nắm tay cháu, ta cùng qua. Bà cụ gật  gật. Nhưng trong lòng đường, tôi  nhích lên một  bước  rồi lại phải lùi xuống. Nhưng chiếc xe máy cứ vùn vụt lao thẳng tới. Con bé con ở đâu lại xồ ra. Nó gọn lỏn ‘’... theo cháu’’ rồi cứ thế đi qua đường, không thèm nhìn trái, nhìn phải. Bà cụ hấp tấp chạy theo. Con bé đặt chân lên hè phố bên kia thì tiếng phanh rít lên, tiếng va đập và một tiếng kêu ối giời ơi, sau là tiếng chửi. Tôi xoè tay ôm mặt không dám nhìn, chỉ nghe tiếng chân người  chạy. Và tiếng công an huýt còi.

   Vào quán cà phê tôi vẫn đến ngồi đợi tin Thụy,  lại thấy con bé quanh quẩn. Nó bảo ‘‘ xe cứu thương đến đưa bà cụ đi rồi, nhưng chắc chẳng sống  được! ”. Tôi làm như không nghe thấy, mở Palm ra tìm e-mail .

*

6-03-2005

   … Đã tưởng chết. Cuộc hồi sinh nào chắc cũng chỉ ngỡ ngàng đến thế, hệt như khi mở mắt sau một cơn mê. Hiện thực là  những móc nối của trí nhớ. Nhớ mầu xanh cây rừng, mầu bạc  những đám mây xa.   Nhớ vị chát của trái sung còn xanh. Nhớ hương thiên lý  thoang thoảng. Nhưng nhớ nhất, là tiếng người, thứ âm thanh không còn là không có gì cả.

   Trùm B ( mắt quắc lên, tròng sâu hoắm, răng chìa ra khi nói) : Này anh bạn, anh không  vào đây đào vàng thì anh tìm gì?

-            Tôi …tôi nói chắc chẳng ai tin.

-            Anh cứ nói, nhưng đừng lươn lẹo!

-            Tôi đi tìm cái vật quí hiếm có khả năng Bảo Quốc Hộ Dân…

-            Cái vật đó là cái gì?

-            Tôi chưa biết. Nhưng bạn tôi kể, trong giấc mơ, cái vật đó sáng lên. Nâng nó và khấn một  trăm vị Bồ Tát, khi nghe có tiếng gọi từ không trung thì chính là nó…

Trùm B chẳng nói chẳng rằng, đến bên cạnh, thình lình giang tay tát, miệng quát:

-            Tổ cha mi, nói láo!

Tôi không thấy bóng dáng trăm vị Bồ Tát, nhưng rõ ràng có ít ra cũng vài chục con đom đóm bay lượn trước mắt. Tai lùng bùng, tôi nghe Trùm B ra lệnh nhốt  tôi vào ngục A Tì. Quay nhìn một tay vá súng AK đứng xớ rớ, Trùm B bảo:

-            Mày thông báo và gọi họp để Trung Ương xử lý nghe chưa!

   Ngục là một cái lỗ rộng đường kính nửa thước, sâu một thước, nước ứa lên từ mặt đất nhập đến mắt cá chân. Tôi bị trói cánh khuỷu, ngồi thu lu thì một tên đến đậy lên cái lỗ một phiến gỗ. Trong bóng đen, trí óc tôi hầu như tê liệt. Mất thị giác, hầu như tôi không còn ý thức về không gian. Có lẽ từ đó, thời gian cũng không còn. May,  tôi vẫn giũ được thính giác. Tai tôi vẫn nghe thấy tiếng lũ khỉ chí choé đâu đó. Mãi sau, có tiếng côn trùng rỉ rả. Thế là đã đêm rồi. Cái lạnh đâm vào tứ phía, ngấm dần, thấu xương. Răng tôi  đánh lập cập. Co người, tôi thu mình, chỉ mong sao quên được giá buốt của rừng. Chắc mai này bọn Trùm sẽ hỏi cung. Cái vật quí hiếm ấy là gì, tôi không biết. Trả lời chúng thế nào? Hay giả điên, có thể chúng sẽ tin mà thả tôi chăng?

   Ôi chao, vẫn lạnh! Ý thức run lên theo nhịp răng đánh báo cái tồn tại đang có vẻ gặp vấn đề! Hãy tưởng tượng. Tôi, một con người tiền sử. Làm sao thổi cho lửa lên? Lấy hai hòn đá, đập vào nhau mong cho lửa bén vào đống lá cây khô. Nào, ta đập. Hãy nhắm mắt tưởng ra nhoáng lửa, tai nghe tiếng chan chát của đá cứu rỗi. Ở giây phút này, đá là vật quí hiếm. Lửa nhoáng lên, nhưng đống lá vẫn cứ trơ trơ lãnh cảm. Ừ thì thế, thôi  làm cách khác. Chẳng sách vở văn chương bảo tình có lửa à ? Thế thì tôi sẽ đốt đống lá khô này bằng lửa tình. Tôi sẽ nghĩ đến  những Ánh, những Liên, những Thanh, những Nguyệt  đã từng làm tôi  choáng váng, đau khổ, thương nhớ, hận thù… Tôi tưởng ra  những cặp chân thon quặp vào lưng ta, những cặp vú bồng bềnh căng nứt áp vào miệng , những đôi môi hé mở đợi chờ, những cái oằn mình nưng nẩy hất  ngược lên…Rồi  những  lời oán trách giận hờn, những câu chia tay bạc bẽo. Vô vọng. Vẫn cứ lạnh. Lửa tình thế cũng giỏi lăm thì chỉ là khói. Nhà văn nào tôi  quên mất tên ví von nó đốt cháy cả một  cánh rừng là nói kiểu cường điệu, tức ít nhiều là nói láo, nói sằng.

   Có tiếng gà rừng. Gà rừng gáy không như gà truồng, vừa gáy vừa bay nên lẫn vào tiếng gáy là tiếng đập cánh. Ờ, tự do nên có khác thật. Còn tôi, tù nhưng sáng ra, sẽ đỡ lạnh. Vả lại, tôi  sẽ được biện bạch trước  đám Trùm.  À, còn cái phương án giả điên tôi  nghĩ tới nhưng chưa đào sâu, nay phải bới lên mọi hậu quả…

   Quẳng xuống cho tôi một mẩu bánh mì, tên khoác AK nói trống  không ‘’ ăn đi, rồi sửa soạn ‘’làm việc’’ nghe chưa ! ’’. Khổ là nó quên cởi trói cho tôi, không có tay thì ăn thế nào được. Nhưng nào tôi có đói đâu. Tôi ngửng mặt nhìn trời xanh. Và tự nhủ, dẫu gì thì cũng phải tìm cho bằng được cái vật quí hiếm kia. Đầu tiên là thuyết phục bọn Trùm cái vật đó có thực. Cái này thì không thể nói nó không dính líu gì đến phương án giả điên. Hiện tượng là một, nhưng bản chất, khác. Nhất định khác.

    Tôi bị điệu đến trước  mặt ba tên. Trùm B, tôi đã ăn từ tay hắn một  bạt tai hôm qua. Nay thêm hai. Trùm C miệng sặc mùi rượu, mắt đỏ nhìn tôi  lừ lừ, mép xệch xuống, tay cứ đưa lên vò đầu. Trùm còn lại, tôi  gọi là Trùm A vì hắn có vẻ như là bề trên hai Trùm kia,  thì rắn chắc, mắt đeo kính cận, môi lúc nào cũng mím lại. Sau, tôi mới biết Trùm này từng là anh hùng diệt Mỹ thời chiến tranh, đi Liên Xô dưới dạng xuất khẩu lao động, buôn lậu thuốc lá qua Ba Lan và ‘’ lỡ tay ‘’ giết hai tay cảnh sát biên phòng nên phải lưu đào, cuối cùng hồi hươngmà vẫn trắng tay.

Trùm C :

-            ĐM, chừ mi không nói cho thiệt thì tau cho nếm cái này, tay đập khẩu súng Colt lên mặt bàn đánh rầm.

Trùm B :

-            Hôm qua mi gọi cái chi đó … mà là tiếng Tầu. Nhắc lại coi…

-            Vật quí hiếm Bảo Quốc Hộ Dân, tôi vội nói.

Trùm C (quay nhìn Trùm A) :

-            …là cái chi vậy, xếp?

Trùm A ( nhẩn nha) :

-            Bảo  như bảo vệ, tức là giữ. Hộ…( cau mày, ngẫm nghĩ) thì như bảo hộ, ủng hộ…tức là giúp, là đỡ đần…Cái vật quí hiếm đó là giữ được nước, đỡ cho dân…

Trùm C. :

-             ĐM…giữ với đỡ  những thứ đó thì được gì ( tay đập đập vào túi)  mà quí với hiếm, cha nội!

Trùm A (nghiêm trang, tay đưa ra cái hộ chiếu của tôi bị Trùm B tịch thu hôm qua) : Anh là Việt Kiều Canada, phải không? Nhìn tôi gật đầu, hắn tiếp, giọng vẫn nhẩn nha - Người đời đến đây là đi tìm vàng, anh thì không, lại nói rằng đi tìm một thứ quí hiếm mà chính anh cũng chỉ nghe nói và chưa biết nó là cái gì…Anh có thấy thế là kỳ quặc không?

Tôi lắc đầu, nói tiếp. Quí hiếm mà nhan nhản để ai cũng thấy, cũng biết thì quí hiếm ở đâu. Không để cho người nghe phản ứng, tôi cao giọng, con ngựa có cánh biết bay trong tranh Tây Phương kỳ quặc thế mà người đời trân quí cất trong  những viện bảo tàng. Con khỉ Tề Thiên giứt lông thổi phù phù trong truyện Tây Du biến thành trăm con khỉ khác để bảo vệ thầy Đường Tăng đi thỉnh kinh Phật kỳ quặc thế mà khối người  đọc từ thế hệ này qua thế hệ khác chẳng phải chỉ ở Trung Quốc mà còn ở nước ta, thì rỏ ra là càng kỳ quặc càng quí hiếm, và càng quí hiếm càng không thấy được, biết được ngay. Một động lực vô hình thúc tôi  đứng dậy.  Giọng giõng dạc, tôi nói về đât nước chúng ta đang thời kỳ phấn đấu mở ra hội nhập vào thế giới, với nào là WTO, nào là ASEAN, nào là Qui chế Thương Mại bình thường vĩnh viễn với Mỹ…thì, tôi đánh tay để nhấn mạnh, ở vị thế nước mới phục hồi sau chiến tranh, ta yếu, và nhiệm vụ giữ nước, tức là Bảo Quốc, tất là trọng yếu. Còn Hộ Dân ư? Có nước nào mạnh mà dân nước đó nghèo khó, khốn khổ, sợ sệt đến nem nép, đàn ông chỉ biết nhậu, đàn bà thì nhấp nhỏm lấy chồng nước ngoài như Đài Loan, Singapore, Malaysia, Nam Hàn…không? Ấy, tôi hạ giọng, hộ dân trước tiên là làm sao giữ được phẩm cách con người, thôi coi mình là một món hàng rao bán, giá lên xuống theo kinh tế thị trường…Đến đây, tôi chưa biết nên tiếp tục thuyết giảng thế nào thì Trùm B ngáp,   răng chìa ra :

-            Mẹ…cha này chắc điên, nói nghe như mấy ổng trên Ủy Ban Nhân Dân giảng nghị quyết.. Mấy anh tính sao?

Nhìn qua bên cạnh, Trùm C mặt gục xuống bàn, miệng ngáy, nước giãi chảy ra ướt nhèm. Không đợi Trùm A đáp, Trùm B quày quả bước đi, nói với lại :

-            Xếp tính chi thì tính, số đô thu được chia cho đều là đạt chỉ tiêu nếp sống văn minh, nghe xếp!

Trùm A gật, đưa tay làm dấu cho tôi đi theo…

*

   Con bé đến sát lớp kính ngăn quán nước với con đường đầy bụi, tay đập, miệng há hốc ra nói như gào. Nhưng tôi không nghe được gì. Nó chỉ tay về phía sau. Một người đàn bà trạc trên dưới 40 đứng nhìn, nhoẻn miệng cười, tay ra dấu chỉ vào cái ghế trống trước mặt tôi. Không đợi tôi phản ứng, bà ta đi ngay lại lối ra vào, mở cửa, đủng đỉnh đi tới chỗ tôi ngồi. Đó là một người đàn bà cao ráo,  quần xệ hở rốn, môi thoa son đỏ, mắt kẻ viền đen, mi cong, bôi phấn xanh quanh tròng, giày cao đến độ khó đi nhanh nên phải bước từng bước  nhỏ. Nàng tươi tắn, giọng điệu đàng :

-            Anh cho phép em nhé. Em cám ơn anh cho cháu tiền quà sáng. Nhìn tôi  gạt tay ý bảo chẳng có gì, nàng tiếp - người tử tế bây giờ hiếm lắm, cháu kể là em muốn đến chào hỏi làm quen với anh ngay…Tay chỉ  về phía con bé lảng vảng bên đường, nàng ngậm ngùi…Ấy con không cha  như nhà không nóc  anh ạ. Anh ở nước nào về vậy ?

Tôi chưa trả lời thì nàng thân mật vỗ tay tôi, nhí nhảnh :

-            Để em đoán nhá, anh nhá. Nhìn tôi  như một con thú đang định giá, nàng tr môi -  Singapore này,  đúng chưa ?

Tôi lắc. Và nàng đưa ra một chùm địa danh, từ Đông Âu  cho đến Bắc Mỹ. Nghe tôi ngắt lời bằng cách thả thõng - Canada, nàng phá lên cười, giọng cứ hồn nhiên :

-            Biết ngay mà, trắng trẻo thế này là phải tới từ Bắc Cực…Em nghe nói ở đó có gấu lông trắng vừa đẹp vừa hiền, anh nhỉ… Vừa nói nàng vừa vô tình đề tay lên đùi tôi, khúc khích - …có nuôi được gấu như chó bên mình coi nhà không anh?    

Tôi gật, thừa biết lắc hay gật cũng vậy. Thản nhiên, nàng vẫy  nhân viên phục vụ quán nước, gọi một ly trà Lipton. Rồi nàng hỏi tên tôi.  Và cứ thế, nàng kể gia cảnh mình. Chồng nàng đi xuất khẩu lao động sang Đức, hai năm nay không có tin, nghe đâu đã kết duyên mới với một chị  người làng  cùng cái cảnh ‘’ trơ trọi xứ người ‘’, một lý do tất nhiên không  chính đáng để hắn phụ rẫy mẹ con nàng, hai sinh vật trung thành vẫn tha thiết đợi hắn cho đến lúc không có cách nào khác là phải, theo nguyên văn lời nàng, ‘’quên mẹ nó đi, anh ạ!’’. Nhìn sâu vào mắt tôi, nàng ngọt ngào:

-            Thế anh đã có gia đình chưa?

Tôi gật, và chép miệng. Nàng cười :

-            Mới có ba ngày mà đã nhớ vợ rồi ư ? Chính chuyên đến thế cơ à! Giọng thương hại, nàng tiếp - Anh ơi, chớ buồn, cuộc đời ngắn ngủi lắm đấy, vù một cái là xong…Anh về đây mà phải ở khách sạn, thật là tội, lại tốn tiền!

Ngạc nhiên, tôi hỏi, đi xa ở khách sạn là bình thường chứ ở đâu bây giờ. Nàng mím môi :

-            Khách sạn toàn là của bọn tư bản ‘’ người bóc lột người ‘’ đấy. Nơi anh ở là của một Soái lớn từ Liên Xô về xây. Nó cắt cổ anh mà anh không biết…Em  tìm cho anh chỗ hay hơn, máy lạnh có, ăn uống những món dân tộc, giá chỉ chưa đến một nửa…Anh ‘’bao’’ đi, em lo hết!

Tôi ngần ngừ. Nàng ngồi sát vào tôi, tay lại để lên đùi tôi, nhỏ nhẹ :

-            Bao  em, thì em sẽ là ‘’ của ‘’ anh thời gian anh ở Hà Nội này…

-            Của là của thế nào ? Tôi hỏi, chắc ngớ ngẩn đến độ nàng phì cười.

-            Còn thế nào nữa. Tất tần tật. Em thay chị nhà anh một trăm phần trăm. Cơm bưng nước rót, muốn gì được nấy, phục dịch ngày đêm, bảo đảm vệ sinh an toàn…Nàng vuốt ngược đùi tôi, trau mỏ - em có giấy bác sĩ mới tuần trước, chẳng bệnh tật gì sất…Còn chỗ ở, khu Nghĩa Đô, nhà xịn mới xây, một tầng lầu hai phòng là thuộc về ‘’ chúng mình’’, máy lạnh, nước nóng, giường chăn đủ cả…Ngày, mười đô thôi, chuyên chở có một chú taxi, thêm năm đô, ngày ngày đưa mình vào nội thành, đi chơi xa thì hợp đồng thêm…

-            Thế sau đó thì…

-            Phần em, vì anh tử tế với con cháu nhà em, em cảm động lắm…Xem nào. Nàng nghĩ ngợi, rồi nắm tay tôi  -  anh lại ‘’ hợp tạng’’ em, nên thế này nhé, anh cho bao nhiêu em xin, chẳng dám vòi gì…

Máu thực dụng của kẻ sống nước ngoài khiến tôi cẩn thận :

-            Nhưng không thế được…Em thấy bao nhiêu thì đủ!

Nàng nghiêm trang, ngồi thẳng lên, giọng trầm xuống :

-            Tháng này em có nhiều việc phải tiêu…Nàng thở dài – thôi thì em xin anh tám chục mỗi ngày! Vị chi anh cứ cho là trăm đô, kể cả tiền em đi chợ nấu cho anh ăn. OK  chứ?

Tôi chột dạ. Mặc cả thế là đẩy câu chuyện đi quá xa. Thấy tôi ngần ngừ, nàng đứng lên :

-            Chẳng dám ép anh, trăm đô cho một ngày thiên đàng ở Hà Nội này là rẻ đấy!

Nói dứt lời, nàng nguýt dài rồi yểu điệu bước đi, mặt không thèm dấu nét xưng xỉa. Con bé con nàng đứng chờ ở cửa. Nó giơ tay, làm cái tác động như để nói ‘’ thế là hỏng ăn rồi, hở mẹ ! ’’.

   Chiếc Palm lại bần bật rung trong túi quần. Tôi mở chiếc điện thoại di động.

Tin nhắn của Thụy, hẹn 6 giờ chiểu lên một hàng ăn ở Tây hồ.

*

   6-03-2005 (tiếp)

   …Luồn lách cây rừng chi chít được đâu nửa giờ, chúng tôi đến trước một căn nhà mái lợp gianh. Trùm A bấy giờ mới cất tiếng:

-            Khu này tôi trông nom an ninh, bảo đảm với anh an toàn tối đa. Sau này, chỉ yêu cầu anh một điều: đừng bao giờ, tôi nhấn mạnh, đừng bao giờ nhắc đến nó khi anh quay về sống với thế giới bên kia…

Nghe bốn chữ thế giới bên kia, tôi rùng mình. Có phải hắn có  ý bảo là thế giới người chết,  cái cõi âm vất vưởng những linh hồn không siêu thoát?  Tôi gặng hỏi:

-            Thế giới bên kia là thế giới nào?

-            Hừ..là cái thế giới từ đó anh đến khu đào vàng này. Nhưng đừng quên, tôi bảo khi anh về sống với thế giới bên kia…Chắc gì anh về. Và biết có sống được hay không!

Tôi lại rùng mình, da nổi gai. Chừng như thấy tôi sợ, hắn trấn an:

-            Tôi thì tôi mong anh sống, anh biết tại sao không?

-            …

-            Vì cái anh tìm! Kẻ đến đây đãi vàng thì có được bao nhiêu. Giỏi cũng chỉ 1,2 lạng sau khi phân kim, lại chia cho dịch vụ an ninh chúng tôi   30%...

-            Dịch vụ an ninh?

Trùm A giảng giải:

-            Thì cũng bắt chước như thế giới bên kia thôi, nhưng khác một điều là chúng tôi hợp đồng minh bạch chứ không chơi cái cách tham nhũng đâu nhé. Và áp dụng nghiêm chỉnh tiêu chí ‘’ xã hội công bằng’’…

Chép miệng, hắn  tiếp:

-            Nhưng quay lại cái vật quí hiếm nhé. Anh tìm, lại chưa biết nó là cái gì, thì còn quá đáy biển mò kim, nhưng bảo không thể tìm được thì không đúng, phải không nào! Thế có chi khác chuyện tin vào ông Thượng Đế thì được cứu rỗi, dẫu  là chỉ trong muôn một…Cũng có thể vì thế nên anh rửng mỡ đi tìm, dẫu anh đang sống bình an trong  một  xã hộ đi trước  đất nước  này hàng trăm năm, đúng chưa ?

Tôi nghĩ đến cược cá độ của Pascal, im lặng gật đầu. Trùm A mỉm cười, thân mật vỗ vào vai tôi. Lúc đó tôi mới dám nhìn thẳng vào mặt hắn. Xương xẩu, lưỡng quyền nhô lên, má trái có một vết thẹo chạy từ màng tai xuống đến cổ, tròng mắt sâu hoắm lấp loé  sau cặp kính trắng khiến hắn  mang giáng dấp trí thức tỉnh lẻ hơn là một tên lục lâm thảo khấu bao che  chuyện đào vàng. Thình lình, hắn nghiêm giọng:

-            Giả như tìm thấy, đề nghị mình chia đôi nhé, chỉ anh với tôi thôi. Đám Trùm kia thu được tiền đô của anh là chúng hài lòng rồi. Còn như có cái vật quí hiếm Bảo Quốc Hộ Dân  ấy thì bán cho ai? Bán thế nào?

Lặng người đi, tôi , một  kẻ mơ mộng, nào có nghĩ đến chuyện rao bán cái giữ được nước, cứu được dân. Thấy tôi  im, hắn lẩm nhẩm:

-            Cái  phần Bảo Quốc có thể chuồn cho các vị lãnh đạo thế giới bên kia, nhưng họ chắc không mua cái Hộ Dân đâu…Hộ dân thì họ còn ăn uống thế nào được nữa! Món này khó tiêu thụ…Hừm, để xem.

Bóp trán, mắt lim dim, vết thẹo trên má hắn phập phồng như thở. Lát sau, phá lên cười, hắn reo:

-         … tớ biết chỗ bán rồi, tớ là thiên tài. Vồ vai tôi, hắn nắm chặt, lắc lắc -  đoán thử  xem!

Không để ý đến tôi nhăn mặt vì đau, hắn nói như hét:

-            Này, tớ bán cho ban lãnh đạo Trung Quốc nhé. Chúng nó mua rồi quẳng đi, thế là ăn đứt được nước mình mà chẳng tốn quân, tốn của, và mang tiếng ‘’ bá quyền’’! Đấy, thần tình chưa - hắn vỗ ngực, giọng phấn khích -  một sáng kiến kết hợp nhuần nhuyễn kinh tế và chính trị  toàn cầu!

Gỡ tay hắn ra, tôi nhẹ giọng đến như van vỉ:

-            Phải tìm đã chứ, tay trắng thì bán gì?

-            Đúng! Lấy lại bình tĩnh, hắn thở ra – Nhưng tìm  phải có kế hoạch. Và tổ chức. Hắn lẩm bẩm như nói một mình - phải cho đi kiếm Ensara….về trợ lực.

 Quay nhìn tôi, hắn nói như ra lệnh:

-         Mai chúng ta khởi công! Hôm  nay nghỉ  lấy sức…Chỗ tìm ra vật quí hiếm ấy, tôi biết!

 

*

   Vừa bước chân vào nhà hàng ăn uống nằm ven hồ, một cô tiếp viên tươi như hoa đã ra đón, hỏi tên tôi, trịnh trọng nói ‘’ xin quí khách theo tôi ‘’. Men lối đi trên bờ nước, tôi được  đưa đến trước một căn phòng, cửa đề chữ VIP đỏ, đằng sau có tiếng cười đùa rôm rả. Cô tiếp viên nghiêng mình, giọng văn minh có định hướng kinh tế thị trường, ngượng ngập ‘’ xin mời’’ rồi đẩy cửa. Không khí mát rượi  trong phòng ùa ra làm cặp kính tôi đeo mờ hơi nước. Chưa nhìn thấy gì thì một vị chạy lại, và mặc dầu tôi chẳng biết là ai, anh ta thân tình quàng vai, miệng nói, chà chà, đợi anh mãi đấy.  Tôi lau kính, lúc đó mới thấy chừng 7,8 người. Một thiếu nữ rất xinh đưa tay vẫy tôi khi được giới thiệu, tên là Nhất Phương. Một vị, chừng thất thập, tóc dài nhuộm đen, miệng lún phún râu, gầy gò trong bộ áo choàng vàng ánh kẻ dọc xanh lè đứng lên đến bắt tay tôi, nói bằng tiếng Pháp ‘’  vous êtes bienvenu, cher ami’’ rồi vẫy Nhất Phương, đẩy cho ngồi cạnh tôi. Và các vị khác, tuổi từ 3 đến 5 mươi, đều là  những nhà văn nhà thơ, kể tên nhưng than ôi, tôi chỉ là một kẻ thực dụng chẳng để ý đến chữ nghĩa, đành chỉ cười cười cúi đầu chào thật lễ độ. Sau đó, ai cũng nói một câu thế nào cho tôi hiểu là họ đều quen biết hắn, cái tên trời đánh thánh vật tôi về đây tìm. Nhưng không thấy Thụy. Tôi quay sang hỏi Nhất Phương thì nàng đáp chưa thấy, và chẳng biết là Thụy cũng hẹn đến đây. Vị đứng tuổi, nhà thơ cách tân đầu đàn ghé vào tai tôi, mủm mỉm cười:

-            Toa cứ gọi moa là anh, như mọi người chứ đừng theo tuổi tác mà gọi moa bằng chú nhé. Anh em ở đây ai cũng gọi moa bằng anh. Cứ kể cái tính chứ đừng đếm tuổi, dễ moa còn trẻ hơn họ đấy. Moa có tiếng là ‘’ lão ngoan đồng’’ Châu Bá Thông của nền văn hóa bản địa …

Nhà thơ lảo đảo đúng lên, tay nâng ly, nói lớn:

-            Nào, cụng ly uống mừng buổi hội ngộ hôm nay nhé!

Thế là tiếng thủy tinh loại vừa rẻ vừa bền lạch tạch như pháo chuột vang lên. Rượu là rượu trắng, gọi là Vodka-ta, khá đầm. Uống đệm, có mấy thùng bia Hennekein, tiếng mở nắp chai lóp bốp. Còn món nhậu, thì ếch, nhái, và đặc biệt là bò tùng xẻo. Nhất Phương ríu rít:

-            Em xẻo thịt, anh nhé!

Nghe xẻo thịt anh, tức là mất cái dấu phẩy trong một câu thoại, tôi giật mình ôm lấy cánh tay như một  phản ứng tự vệ. Phương tưởng tôi đùa, cười:

-            Xẻo thịt bò cho anh ăn, đừng lầm mà ăn phải thịt em nhé…

Nhà thơ cách tân chồm qua, nói bô bô:

-            Thịt em thì phải ăn tươi chứ. Cười hô hố, ông ta tiếp -  Nhất Phương là thiên nhất phương trong thơ Tô Đông Pha đấy, toa  người Tây học có biết là ai không?

Thấy tôi lắc đầu, nhà thơ cách tân hạ giọng:

-            Moa biết, mấy toa giỏi thơ Tây thơ Mỹ chứ mấy cái món cổ thì nào có để ý. Còn moa, nói thật nhé, ông cụ đẻ ra moa là thầu khoán, gia đình gốc tư sản nên đi học trường của Pháp từ thời trước 45, may có chút chữ Hán ông nội moa bắt học thuở bé nên mới giữ được chút truyền thống. Mười bốn tuổi, moa  mê Lamartine, mê Chateaubriand…rồi  khi đọc Beaudelaire thì moa lập chí làm thơ !

Tôi gật gù. Kể thật lạ, kỳ trước tôi về nước cách đây đâu 10  năm, người đâu đâu cũng bảo mình gia đình vốn ba đôi là nhà nông. Bây giờ, chỉ mới 3 ngày qua, nghe ai cũng khoe gốc họ nếu không tư sản thì đều là con cháu quan lại thời nhà Nguyễn. Tôi nốc vội ly rượu để quên thắc mắc. Nhà thơ cách tân ghé vào tai, rù rì:

-            Ngôn ngữ là một điều kỳ lạ. Bất cứ thứ tiếng nào moa học cũng nhanh, và moa cảm ngay cái hồn của nó. Đọc thử toa nghe một vài câu moa làm nhé…La tendre folie …dans cette vie…Ce rêve fantasmagorique …d’une fraicheur frigorifique…

 Tôi chưa dám nói gì,   Nhất Phương đã xuýt xoa:

-            Em nghe có vần như thơ Đường. Nhìn tôi, nàng nói - chả là em đang du học ở Thượng Hải về điện ảnh nên tiếng Trung Quốc bây giờ em cũng tàm tạm, nghe thơ có vần là em biết ngay…Này nhé, em nói sai thì anh sửa… phôli vần với vi. Còn cái vần sau là ích…phải không?

Không dám gật đầu, tôi nhìn sang nhà thơ cách tân, tảng lờ bằng cách nâng ly uống mừng. Mừng gì đây? Nhà thơ cách tân vừa cười vừa hỏi. Nhất Phương đáp hộ ngay:

-            Thì mừng cho sự hội nhập Đông-Tây  chứ còn gì nữa! Nàng khúc khích,  nâng ly, tay kia giơ lên, miệng hò – Nào….zô  nhé!

Thế là zô, zô…Tôi uống, và cứ thế, uống mừng cái này, mừng cái kia như thể cuộc đời đang cũng mừng vui nhộn nhạo.

   Trời về chiều, hoàng hôn lướt trên mặt hồ như một tà áo đỏ vờn bay trên mặt hồ óng ánh nước. Ô hay, sao không thấy Thụy. Tôi lại hỏi Nhất Phương. Nàng béo má tôi, cười, có em đây thì cần gì đến ai. Và nàng lại rót, tôi lại uống, cứ thế…

   Khi tôi tỉnh dậy thì không còn một ai trong căn phòng VIP. Giụi mắt, tôi ngơ ngác nhìn một nhân viên nhà hàng vỗ khẽ vào vai, đánh thức tôi dậy để tôi thanh toán cái hóa đơn ăn mừng vừa rồi. Tôi bấm máy gọi cho Thụy. Tiếng anh ta ngạc nhiên:

-            Tôi đâu có hẹn anh đâu!

Một lát sau, Thụy phóng xe đến đón tôi về. Nhìn tôi, Thụy nói:

-           Anh xem cái tin nhắn gửi đến anh là ai gửi!

Quả thực không phải Thụy gửi mà là địa chỉ mail lạ hoắc.  Gửi  ngược về địa chỉ đó, chúng tôi mới đó là một trạm Internet trên phố Trần Hưng Đạo. Thụy bực bội:

-            Tôi hỏi đám bạn quen, có cho  e-mail của anh cho một  vài đứa   để có gì chúng nó thông báo thẳng với anh… Nhưng thằng nào chơi cái trò ‘’ăn chạy’’ này ?

Vỗ vai Thụy, tôi  bảo chẳng có gì đáng để quan tâm. Và hỏi, Trang ở đâu?

*

6-03 (tiếp)

   … Buỗi trưa hôm đó, tôi được phép đi quanh quẩn trong khu vực Trùm A phụ trách an ninh dưới sự giám sát của một bảo vệ, hệt như là ở thế giới bên kia. Nắng gay gắt, trời lại không gió, nóng đến mờ mắt, nhưng đám người đãi vàng vẫn say sưa, kẻ xúc, người sàn, đổ nước rửa  cát, đá ven một con suối cạn, giơ lên ngắm nghía, lắc đầu hoặc gật gù tùy cái may mắn trời cho. Họ đi từng ê-quíp ba, bốn người, lúc nào cũng có một có nhiệm vụ canh chừng. Anh bảo vệ giảng giải: ‘’… ở đây rất dễ bị cướp, lắm khi bảo vệ tụi tôi không can thiệp kịp. Nghèo nên tham mà anh! Bắt được cướp, tụi tui bắn bỏ liền. Mấy xếp trong Trung Ương dặn, mình kiếm ăn được là vì giữ  an ninh trật tự nghiêm minh ! ’’, rồi cười hề hề. Tôi nhìn anh, hỏi : ‘’ kiếm khá không?’’. Thì thào, anh hạ giọng: ‘’ bí mật nghe! Mình lấy từ 30  tới 40%  lượng đá có quặng vàng. Nếu người đào vàng khoán cho mình phân kim thì mình lấy 20% lượng kim. Ngoài ra, khi phân chia lô để đào, mộ lô mình ‘’ thuế’’ một  tới hai trăm ngàn đồng mỗi ngày, tùy lô tốt xấu…Bảo vệ tụi tui đứa được  triệu hai cho tới triệu rưởi một  tháng, mà là tiền Việt Nam mình nghe…’’. Không thấy  phụ nữ đi đào vàng, tôi thắc mắc. Anh bảo vệ chém tay vào không  khí, quả quyết:

-            Có mấy bả, chắc tụi tui lại phải lo luôn chuyện ghen tuông lang chạ. Hồi ban đầu, có mấy bả, xảy ra lắm vụ mấy bả kêu là hãm hiếp, phức tạp lắm. Ông xếp khu này họp. Ổng nói - xưa nay người  ta  lấy vàng thử bụng đàn bà,  lấy đàn bà thử bụng đàn ông. Không để phụ nữ  ở đây, nhưng bề nào vàng cũng đến tay họ, thế là vẫn đúng qui luật chớ không phải kỳ thị phân biệt nam-nữ chi cả…Anh nghe hay không?  Ổng xưa học tới cấp ba,trí thức thứ thiệt chớ không như tụi tui đâu…

Bước đến ven suối gần  nhóm người cắm cúi sàng xẩy. Một anh lông mày xếch ngược thò  tay  nắm  cán một con dao rừng sáng quắc, ánh mắt chỉ dịu đi khi anh bảo vệ xô đến, miệng kêu ‘’  khách của ông Trùm đó! ‘’. Quay sang tôi, anh dặn ‘’  đi lang bang là mất  đầu đấy nghen! ‘’ . Bất giác, tôi đưa tay lên sờ cổ, gật đầu, biết nó còn đấy.

Về nằm trong một cái lán để tránh nắng, tôi tự hỏi, Trùm A  khẳng  định chỗ tìm được cái vật Bảo Quốc Hộ Dân là chỗ nào. Và trên cơ sở gì? Ngược lại, nếu hắn không nói thế, tôi cũng chẳng biết tìm chi, và tìm ở đâu, chỉ đoan chắc là khi tìm thấy thì vật đó phát sáng, đồng thời nghe được một tiếng nói từ thinh không. Tóm lại, tất cả mù mờ như làn hơi nước bốc lên dưới ánh nắng đổ lửa trên thế gian đang lục bục sôi  như một nồi nước trong đầu tôi. Lơ mơ quẩn quanh như thế, đến lúc xế chiều  thì có người đến gọi tôi đi.

Lên căn nhà mái lợp gianh tôi đã đến ban sáng, tôi vừa thò đầu vào thời Trùm A vẫy tay, chỉ một người đàn ông, giới thiệu:

-            Đây là thầy Ensara. Thầy sẽ trợ lực cho chúng ta!

Người đàn ông cao lêu nghêu, áo choàng từ đầu xuống chân trắng toát, đầu quấn khăn cũng trắng, ngước mắt nhìn tôi vô cảm. Thật khó đoán ra tuổi tác. Khuôn mặt Ensara chảy dài, khẳng khiu nhưng lổ chỗ  những vết sứt sẹo có lẽ di lại từ một trận đậu mùa thuở niên thiếu, sạm ánh tối của một  thứ mầu mun han rỉ. Ensara nói lơ lớ, nhưng Trùm A hiểu, đáp:

-            Khởi công càng sớm càng hay. Ngay đêm nay cũng được!

Ensara gật đầu, chẳng  nói chẳng  rằng xách bị đi ra ngoài. Nhìn Trùm A, tôi hỏi:

-            Ông ta là ai ? Và trợ lực thế nào?

-            Ông ấy là thầy pháp, người Chàm…

Chỉ chiếc trõng tre bảo tôi ngồi, Trùm A giảng giải. Khu này đãi cát tìm vàng là chuyện phụ, kiếm chẳng được mấy. Nhưng sát chân núi là khu cổ mộ của dân tộc Chàm từ mấy trăm năm  nay. Họ chôn cả của cải với người chết, trong  những cái  chum sành. Người chết càng giầu thì của cải châu báu càng nhiều, chẳng chỉ có vàng mà còn cổ vật, ngọc ngà …Đào mả, phải đề phòng rắn và ma Hời. Rắn, có thuốc. Nhưng ma Hời, phải nhờ tới thầy pháp. Người đi đào mả kể hễ cứ chạm vào chum là nghe tiếng khóc lóc, tiếng  chửi rủa. Có kẻ hoa mắt thấy giáo mác sáng loáng vung lên. Có kẻ tối mặt tối mũi, xây xẩm gục xuống, sau hóa rồ hóa dại. Từ ngày vời được Ensara, những hiện tượng kia bớt dần, nhưng cách đây hai tháng, người thò tay vào một cái chum rất lớn bỗng nhiên bị hút tuột vào, và biến mất, không để lại chút hình tích nào, cứ như là cát, là bụi. Từ đó, Ensara xin thôi. Hiện còn bảy cái chum  chưa ai dám động tới. Trùm A hạ giọng:

-            Tôi đích thân đến nói mãi Ensara mới nghe, đòi đến 20 lạng vàng thù lao…

Chỉ nghe Trùm A kể, tôi đã ớn lạnh, lưng đổ mồ hôi. Rùng mình, tôi gặng:

-            Nhưng sao mà biết vật quí hiếm ở trong bảy cái chum đó?

Trùm A bật cười:

-            Này nhé! Khi tôi ở bên Liên Xô, tôi nghe một câu chuyện thế này, kể cho anh nghe nhé. Có một đêm, một người đánh  rơi một đồng tiền vàng trên quãng đường từ nhà anh ta  ra  đến cổng làng. Con  đường đó có  độc  một cát đèn đường, còn lại tối đen nhu  mực. Anh ta cặm cụi bới từng cọng cỏ dưới ngọn đèn tìm đồng tiền. Dân làng cười, bảo đồng tiền đó có thể rơi bất kỳ chỗ nào trên cả con đường dài này, sao cứ loay hoay tìm đúng một chỗ. Anh biết người đó trả lời thế nào không?

Nhìn Trùm A, tôi lắc đầu. Giọng hể hả, hắn khệnh khạng:

-            Tôi tìm chỗ sáng, vì chỉ chỗ ấy may thì tìm thấy. Còn chỗ tối, rõ là vô phương…Đấy, tôi cũng vậy. Bảy cái chum kia là chỗ sáng, còn lại thì khu này tôi nằm lòng, có cái quái gì mà tìm!

Vẫn sợ, tôi cố vớt vát:

-            Cái may này đổi hai mươi lạng vàng, đắt đấy…

-            Hà hà…đưa trước một  lạng thôi, tìm ra thì mới chồng tiền chứ! Tìm được cái vật quí hiếm ấy thì hai mươi  lạng có nhằm nhò gì, Trùm A đáp, giọng chắc nịch.

Cơn sợ bị hút vào một cái chum để rồi vô hình vô tướng khiến tôi run lên. Nghiến cho răng thôi đánh vào nhau, tôi cò kè:

-            Còn chuyện này, hôm anh nói bán vật quí hiếm cho Trung Quốc thì tôi chưa phát biểu ý kiến. Tôi nghĩ thế là không được! Làm sao quên được một nghìn năm Bắc thuộc. Họ nay vẫn kè kè sát nách ta…Nguy lắm! Tôi không muốn dính dáng vào cái nghiệp này đâu…

Trùm A nghe tôi nói, nhếch mép cười như muốn bảo thế là chú mày sợ chứ gì, sẵng:

-            Thế thì làm thế nào?

Không biết ăn nói ra sao, tôi sượng sùng:

-            Tôi chịu, anh thử động não xem sao. Chuyện buôn bán tôi kém lắm!

Trùm A nhổ nước bọt, quay lưng bước ra  ngoài.

*

6-03 (tiếp)

   Đến tối, tiếng cú rúc cứ vang lên từng chập. Gió lên, cây rừng xào xạc, trăng  non lơ lửng giửa những đám mây rám bạc trên đỉnh đầu . Ngày nóng, nhưng đến đêm, rừng ẩm ướt khiến trời lạnh hẳn đi. Xa xa,  tiếng trống bập bùng nhịp cho tiếng kèn ai oán vẳng lại. Trùm A bất ngờ hiện ra. Như một phản ứng, tôi co người lại, nói ngay:

-            Anh tìm người khác thay tôi…Ở đây thiếu gì người!

-            Hừ…không được! Ensara đã liên hệ được với nữ thần Shiva. Thần phán, đây là karma của anh, chỉ có  anh mới có cái duyên  nghiệp này…Còn chuyện bán, tôi nghĩ ra để chiều lòng anh rồi. Ta bán nó cho Mỹ. Bọn này đã từng muốn chiếm một nửa nước ta, bây giờ Bảo Quốc là cho nó tất, chắc là OK salem! Còn Hộ Dân  thì  chúng nó đòi ta  tôn trọng nhân quyền, thế là cũng  nằm trong chiến lược Hoa Kỳ trên thế giới, chúng  nó không thể từ chối được! Chúng nó lại vẫn mạnh nhất, giàu nhất…anh có đồng ý không! Mà này, Trùm A cười nhạt vỗ tay vào bao súng lục, anh không đồng ý thì cũng phải hợp đồng với tôi, anh  nghe  rõ chứ?

Dứt lời, Trùm A vẫy tay. Một toán bốn người xông vào, kẻ bịt mắt, người xốc vai tôi lôi đi. Quanh co một lát, chúng tôi đến trước một đống lửa cháy có ngọn. Trùm A mở băng bịt mắt, tôi thấy có cả Trùm B  và C đứng  đợi. Ensara vẫn chân  nhẩy tay múa, bước  vòng vòng quanh đống lửa, miệng hú dài, tiếng hú hòa vào tiếng chí chóe của  những con khỉ khiến nhân giới nay chập chờn hư  thực. Ensara đến trước mặt  tôi, nói lớn tiếng. Chưa kịp hiểu gì, Trùm C ra lệnh: .. Cởi hết quần áo ra!’’. Trần như nhộng, tôi khép chân, tay che, thầm nghĩ mình nào khác chi   những con khỉ trên cây vẫn cứ xột soạt leo trèo. Ensara kéo tôi đến trước một bức tượng bằng đồng, trăm tay trăm chân, đứng nghiêng, hông xếch lên, miệng  như cười. Hắn rút từ bị đồ nghề một cây búp lông, chấm vào một thứ dung dịch sền sệt bốc mùi khăm khẳm, hoa lên trời rồi rì rầm to nhỏ. Ngửa mặt nhìn trăng, hắn lại hú, ngay sau đó thét lên người từ ngữ lạ hoắc, tiến ttới bắt tôi hả mồm, đổ ực vào một loại nước mùi hăng hắc. Làm xong động tác này, Ensara lại nhẩy múa như một con choi choi,  giọng hú mỗi lúc một não nùng. Tôi như mê đi, sực tỉnh khi thấy người bị choàng vào hai lượt dây chão bện bằng vỏ cây nhuộm đỏ, một ở ngang ngực, một ở bụng.  Xưa nay huyênh hoang là một kẻ vô thần vì thừa hưởng được tinh thần duy lý của Thế kỷ Ánh  Sáng, tôi bỗng thấy cần một sự che chở siêu nhiên,. Nhưng cầu ai? Jesus, hay Thích Ca, hay Mahommed…? Không biết, tôi lẩm nhẩm…lạy Trời!

   Chẳng biết Trời nghe thấy chưa nhưng tôi bị điệu đến trước một cái chum đường kính độ hai vòng ôm, nắp mở toang hoác, phía trong đen ngòm. Người ta buộc những sợi dây nối người tôi  vào gốc một  thân cây khá to, ý nhằm nếu như cái chum hút tôi vào thì còn có hai sợi dây giữ dịt tôi vào cái thế giới này. Không tin lắm vào khả năng  thô sơ này, tôi cứ chùng chình, tay không dám đưa vào cái lỗ trống đen ngòm trong đó vật chất có khả năng tiên tan. Thấy vậy, Trùm C quát: ‘’  ĐM…mi đưa tay zô, nếu không ông bắn bỏ!’’. Nghe tiếng đạn nạp vào nòng súng, tôi tự nhủ, có chết thì thà là tiêu tan như một siêu hình còn hơn bị một viên đạn đồng cắm vào tim, thậm chí có thể lệch sang phổi, không chết ngay mà khắc khoải cả đêm. Tôi nhắm mắt, thọc tay vào chum khoắng lên, mắt  chờ bảo vật phát sáng, tai giỏng ra đón từ thinh không những  lời huyền diệu đổi  mệnh Trời. Chỉ có tiếng lục cục xương cốt hàng trăm năm trước đập vào nhau. Trùm A quát: Không có đếch gì à? Tôi lắc. Thế là họ điệu tôi qua chiếc chum thứ hai cách đó cả trăm thước. Cũng vậy. Rồi đến  chum  thứ ba, thứ tư…Ensara vẫn nhẩy múa, nhưng bước chân có chậm lại. Khỉ trên cành chí choé nhiều hơn. Khi tôi mò vào chiếc chum thứ bảy, trời đã tờ mờ sáng. Vẫn chẳng  thấy gì. Ô hô, cái vật quí hiếm Bảo quốc Hộ dân đâu? Trùm B,  kẻ  đánh tôi một cái tát, lầu bầu như chửi. Trùm A, mặt đanh lại, gằn:

-            Đưa nó tới tìm ở cái chum đã hút người… Mình đâu biết có cái gì trong đó!

Tôi lạnh người. Ensara lè lưỡi, mặt dài ra.

Đi khoảng mươi phút, người  ta  đẩy tôi chúi xuống chân một  cái chum lớn hơn  những cái chum khác ít là hai lần. Không hiểu vì cớ gì, tôi cảm thấy bình tĩnh. Có chết, cũng chết cho vinh quang. Chết vì nước. Chết để bảo quốc. Chết vì hộ dân. Và chết như vậy, ai nỡ vừa chết vừa sợ, rên rỉ, khóc lóc. Trong thoáng chốc, tất cả quá khứ hiện lại, rõ ràng từng nét, với từng người  tôi  yêu thương.  Khi hình ảnh  người đàn bà trên thuyền đêm sông Hương hôm nao cười buồn, tôi đã sẵn sàng. Nhìn  Trùm A, tôi nói như trăn trối:

-            Nhớ đấy…Đừng bán cho Trung Quốc, nghe không!

Quay lại nhìn  những  con  người đứng trợn mắt nhìn, tôi mang tâm trạng một Kinh Kha ngày bên sông Dịch. Trùm A hò:

-            Buộc dây cho chắc vào gốc cây, rồi hai thằng nắm một  dây. Động tịnh bất thường thì kéo khi tao hô! Hiểu chưa?

-            Hiểu! Đám tay chân của Trùm A hò lên.

Ensara tiến tới trước mặt  tôi, vẽ bùa trong không khí, bảo tôi há miệng ra. Tôi lắc đầu, liên tưởng đến cái dung dịch hăng  hăng hắn đã  đổ vào miệng tôi. Sống cho sạch, chết cho thơm, tôi nghĩ bụng. Thình lình, trong tranh tối tranh sáng, tôi thấy một  vị đầu trọc mặc áo nâu sồng ngồi dưới gốc cây, một  tay che mặt, tay kia giơ lên như bắt quyết. Rồi tôi nghe trong thinh không tiếng mõ văng vẳng, và tiếng ai đó thì thào bên tai, trong cõi vô thường sinh ký tử qui, sát na giữa tử sinh ngộ ra thì đáng một kiếp rồi, sân si ái vọng nữa mà chi…A, chân lý đây. Và phải sống với nó, chết với nó. Tôi ưỡn ngực bước thẳng đến miệng chum mở toang hoác, đen ngòm ngòm, trong đó chắc chắn chứa cả cái vô hình vô tướng của kẻ đã từng biến vào đó như chưa từng là da là thịt. Tay tôi  vừa qua miệng chum, quả có một  thứ lực qui tâm hút tôi vào. Chân dậm xuống trì kéo lại, tôi thò tay vào. Trời hỡi, một thứ nước tanh  hôi nhớp nhúa sực lên, và có gì đó như trăm cái vòi bạch tuộc cuốn lấy cánh tay tôi. Trùm A hô kéo, rồi chạy lại nắm dây phụ lực. Ensara rống lên như phát dại. Vật Bảo Quốc Hộ Dân tất phải ở đây thôi. Nghiến răng, tôi thọc sâu tay vào, vai đã quá miệng chum, nhưng  tôi cố giữ đầu tôi ở ngoài để thở. Tay tôi gần như đụng đến đáy chum. Phải rồi, vật quí hiếm đây chăng? Đụng vào nó, nó sắc lạnh, nó phát sáng. Có tiếng reo. Tôi giỏng tai cố nghe một tiếng gọi giữa thinh không. Gom hết sức, tôi nắm chặt lấy cái vật vô cùng quí hiếm. Bây giờ, chết tôi chẳng sợ, chỉ sợ nó vuột khỏi tay. Chân tì vào thành chum, tôi cong người vận mười một thành công lực, đạp ngược. Có tiếng gió ào ào lướt qua. Tôi hững người, ngã bịch xuống trong tiếng reo, ngất đi.

   Khi tôi tỉnh dậy, Trùm A ngồi bên cạnh, mặt nhăn nhó. Hắn lo cho  tôi thế quả cũng chí tình. Tay ra dấu cho hắn đỡ tôi dậy,  tôi thều thào ‘’ cái vật quí hiếm đó đâu?’’. Trùm A lạnh lùng, giúi vào tay tôi cái vật sắc lạnh tôi đã sẵn sàng hy sinh mạng mình Tôi đã nắm chặt lấy nó dẫu phải phân hóa đến độ vô tướng vô hình như khi gặp lỗ đen - tức là black hole, nơi không  còn năng lượng, không  còn vật chất – trong vũ trụ vật lý đã  được  những nhà khoa học xác nhận là có. Trùm A văng tục, rồi đoán:

-            Chắc cái đèn pin này là của thằng chết bất đắc kỳ tử hai tháng trước!

Cầm cái đèn pin, tôi cũng chỉ muốn chết cho  rồi đời.

Trùm A lạnh lùng:

-            Thế là xong!  Chau mày ngẫm nghĩ, Trùm A  tiếp, trả anh hộ chiếu và mấy cái Traveller Checks  chúng tôi không dùng  được! Tiền đô tươi, chúng tôi lấy để chi phí cho việc tìm cái vật Bảo quốc Hộ dân…Sáng  này, có xe đưa anh về Hội An, sau anh  tìm xe đi đâu thì đi!

Lặng người, tôi đưa tay quệt hai dòng ờnước mắt không biết chảy ra từ lúc nào.

Xe  rời địa phận Mỹ Sơn như chồm khỏi một cơn ác mộng trên con đường rừng mấp mô uốn khúc, Những  người đào vàng vẫn cặm cụi, không ai  ngước lên nhìn. Tôi xin lại được cái máy Palm, nhưng đợi khi xe vào thị xã mới dám mở nó ra bấm tìm tin nhắn. Hai thằng bạn chết tiệt của tôi đã bay đến Hà Nội. Rậm-ria  từ Franfurk. Tiểu-quỉ   từ Paris. Chúng viết:

   ‘’… cái vật chúng ta tìm ở Thăng Long, ở đâu thì ra đây ngay, hẹn mỗi sáng cứ 8  giờ ra quán phở Thìn  trước bờ Hồ, hỏi ai cũng biết. ‘’.

Tôi mừng, thấy mình bớt cô đơn. Ngay sáng hôm đó tôi đi đổi tiền,  đến Cà-phê Sinh thuê xe ra thẳng phi trường Đà Nẵng.